Enter your keyword

Bạc hà

120,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 1 vote[s]

Tên khoa học Mentha arvensis L.

Thuộc họ Hoa môi Lamiaceace (Labiatae).

Bạc hà là một vị thuốc rất phổ thông ờ nước ta.

Nó được dùng trong cả đống y và tây y.

Cây bạc hà cho những vị thuốc chủ yếu sau dây:

1. Bạc hà (Mentha hay Herba Menthae) là toàn bộ phận trên mạt đất, tươi hay phơi hoặc sấy khô của cây bạc hà.

2. Bạc hà diệp (Folium Menthae) là lá bạc hà tươi hay phơi hoặc sấy khô.

3. Tinh dầu bạc hà (Oleum Menthae) là dầu cất từ cây bạc hà.

4. Mentol hay bạc hà não ịMentol-Menthol) là chất đặc, trắng chiết từ tinh dầu bạc hà ra.

Với tinh dẩu bạc hà và mentol, ngươi ta còn chế nhiều dạng thuốc rất phổ thông khác như dầu cù là nước hoặc cao (dầu con hổ), kẹo ngậm ho bạc hà, rượu bạc hà, thuốc đánh răng bạc hà v.v. ..

Tuy là một vị thuốc rất phổ biến, nhưng ta mới tự túc dược lá và cây bạc hà, còn tinh dầu và mentol vẫn phải nhập rất nhiều.

Về mặt thực vật cần phân biệt nhiểu loài bạc hà hiện có ở nước ta.

Loài chủ yếu thường găp là loài Mentha arvensis L. mọc hoang rất nhiều ở nưóe ta, nhưng qua mấy năm điều ưa, chúng tôi chưa thấy lại.

Tuy nhiên trong thòi gian từ năm 1955 đến nay, chúng tôi đã di thực được loài Mentha piperita L. này bàng hạt nhân được ở Pháp (1956) và dây giống bạc hà của Liên Xô cũ (1958) hiên nay đã phổ biến di nhiều nơi và của Đức (1962) ờ nước ta.

A. Mô tả cây

Cây bạc hà Mentha arvensis L. còn có tên là bạc hà nam là một loại cỏ sống lâu nàm, cao từ 10 đến 60-70cm, có thể cao tới lm, thân vuổng mọc đứng hay hơi bò, có khi phân nhánh, ưên thân có nhiều lông.

Lá mọc đối, cuống dài từ 2 đến 10mm, phiến lá hình trứng hay thon dài, rộng 2-3cm, dài 3-7cm, mép có răng cua, mặt trên và mặt dưới đều có lông che chờ và lồng bài tiết.

Hoa mọc vòng ờ kẽ lá, cánh hoa hình mỏi màu tím hay hồng nhạt có khi màu trắng. ít khi thấy có quả và hạt. Ngoài loài bạc hà mọc hoang dại ở nước ta, gần đày đã nhập một số chủng cùng loài có năng suất tinh dầu cao như BH 974 (đưa vào nước ta từ tháng 9-1974), BH 975 (đưa vào nước ta từ tháng 9-1975) và BH 976 (xuất xứ từ Triều Tiên, đưa vào nước ta từ tháng 9-1976).

Hai loại 974 và 975 được xác định thuộc loài Mentha haplocalyx Briq. (nhóm Mentha arvensis)

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Tế tân
  2. Cốc tinh thảo
  3. Cà gai leo
  4. Bạch tật lê

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây bạc hà mọc hoang và được trồng tại nhiều vùng ở nước ta, mọc hoang cả ớ miền đồng bằng và ở miền núi.

Chúng tôi đã phát hiện mọc hoang nhiều ờ Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Bắc Cạn, Sơn La.

Sau 25 năm nghiên cứu của chúng tối (1955- 1980) cây bạc hà trước đây chỉ mới được trồng trên quy mô tương đối lớn ở các làng NghTa trai (Hưng Yên), Đại Yên (Hà Nội) và rải rác ỏ nhiều tình khác để lấy lá và cay làm thuốc. Đã bắt đầu được trồng để cất tinh dầu.

Năm 1958 tại huyện Gia Lâm-Hà nội, vườn trồng bạc hà thí điểm của trưèmg Đại học Dược khoa Hà nội đã được trang bị nồi cất tinh dầu.

Năm 1972, cả nước ta lần đẩu tiên đã tự sàn xuất được 60 tấn tinh dáu bạc hà và sản xuất được một tấn menthol tinh thể. Tại các nước khác, loài bạc hà này còn được thấy khai thác ở Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Quảng Đòng, Quảng Tây, Phúc Kiến, Vân Nam v.v…), Nhạt Bản (nổi tiếng vì tinh dầu chứa nhiêu mentol nhất, 80-90%).

Từ năm 1974, ở nước ta đã có chủng loại bạc hà Nhật Bản này. Muốn trổng bạc hà tốt nhất cần chọn nơi đất sét có nhiều mím, sau đến loại đất cát. Đ

ất cần làm cỏ bón phân kỹ trước, làm luống rộng, trên mỗi luống trồng 2-3 hàng. Có hai mùa trồng bạc hà vào mùa xuân và thu. Mùa xuân vào các tháng 2-3, mùa thu vào tháng 8-9.

Tốt nhất là trổng vào mùa xuân cho năng suất cao nhất. Trồng bằng hạt hay bằng mẩu thân, hoặc thân ngầm.

Có thể trồng bằng hạt nhưng rất ít áp dụng. Sau 3-4 tháng có thể thu hoạch đợt đầu, thường một năm có thể cắt cây 3 hay 4 lần, lẩn thứ nhất vào tháng 6-7, sau đó cần xới và bón phân, sau 2 tháng (vào cuối tháng 8 hay tháng 9) lại hái lần nữa vào lúc cây đang ra hoa nhiều.

Nếu hái 4 lần thì có thể hái lứa đầu vào tháng 6 7, lứa thứ hai vào tháng 8-9, lứa thú ba vào tháng 10- 11, lứa thứ 4: 2-3. Hái VC, cần bó lại từng bó, phơi chỗ mát cho khổ hoặc nếu cất tinh dầu thì cần cất ngay hay để hơi héo mà cất.

Hiệu suất trung bình là 25 đến 40 tấn cây tươi mỗi năm, mỗi hecta, cất được từ 50 đến 100 lít tinh đẩu. Theo tài liệu của các nước thi hiệu suất 1 hecta trung bình hằng năm cũng là 10-12 tấn cây tươi, có những năm hoặc những nơi chăm sóc tốt có thể tới 20 đến 35-40 tấn, đặc biệt có nơi hiệu suất đạt tới 70 tấn 1 hecta, cất được từ 20-150 lít tinh dầu.

Nếu trồng mãi trcn một diện tích thì hiệu suất nãm đáu và năm thứ hai cao, năm thứ ba giảm xuống chì còn chừng 1/3. Với loài bạc hà Liên Xỏ cũ mà chúng tôi di thực vào, mùa trồng thích hợp nhất ở đổng bằng là mùa thu (tháng 8-9), thu hoạch lứa đầu vào tháng 10-11, lứa hai vào tháng 2-3, tinh đầu thơm dịu hơn bạc hà của ta, nhưng năng suất cây thấp hơn.

C. Thành phần hoá học

Hoạt chất chủ yếu trong bạc hà là tinh dầu bạc hà. Tỷ lệ tinh dầu trong bạc hà thường từ 0,5 đến 1%, có khi có thể lẽn tới 1,3-1,5%. Bàng phương pháp lựa chọn giổng, Liên Xô cũ đã có những loại bạc hà đạt tới 5,2 đến 5,6% tinh dầu (tính trẽn cây, đã trừ độ ẩm).

Ngoài tinh dẩu, trong cây bạc hà còn có các flavonozit.

Thành phần chủ yếu trong tinh dầu bao gồm những chất sau đây: Mentola Cl0H19OH có ưong tinh dầu vói tỷ lệ 40-50%, loài của Trung Quốc và Nhật Bán có thể lên tới 70-90%.

Mentola ở trong tinh dầu chù yếu ờ trạng thái tự do nhưng một phần ờ dạng kết hợp với axit axetic. Mentol Cl0H)8O chừng 10 đến 20% trong tinh dầu bạc hà Trung Quốc.

D. Tác dụng dược lý

Tại chỗ, tinh dầu bạc hà và mentola bốc hoi rất nhanh, gây cảm giác mát và tè tại chỗ, dùng Ưong một số trường hợp đau dây thần kinh, còn có tác dụng sát trùng mạnh thường dùng trong một số trường hợp ngứa của một số bệnh ngoài da, bệnh về tai mũi họng.

Tuy nhiên cần biết ràng tinh dầu bạc hà và mentola bói mũi hay bồi trong cổ họng có thể gáy hiện tượng ức chế có thể tới ngừng thờ và tim ngừng đập hoàn toàn.

Hiện tượng này hay xảy ra nhất là đối với trẻ con ít tuổi. Người ta dã nhận xét thấy một sô’ trường hợp chết do nhò mũi 1 giọt dầu mentola 1% hoặc bối vào nĩem mạc mũi một ít thuốc mở có mentola.

Do đó chúng Ia cần hết sức thận trọng khi dùng tinh dấu hạc hà hay dầu cù là cho trẻ con ít tuổi, nhất là tre’ con mới đẻ. Bạc hà, tinh dầu bạc hà hay mentola uống với liều rất nhỏ có thể gày hung phấn, xúc tiến sự bài tiết của tuyến mổ hôi, làm cho nhiệt độ cư thể hạ tháp.

Liểu lớn, có tác dụng kích thích tuỷ sống, gây tê liệt phản xạ và ngăn sự lên men quá bình thường trong ruột.

E. Công dụng và liều dùng

Bạc hà là một vị thuốc thơm, dùng làm cho thuốc thơm dễ uổng, làm ra mổ hôi, hạ sốt dùng chữa cảm sốt, cảm mạo, mũi ngạt, đầu nhức, còn giúp cho sự tiêu hoá, chữa kém ăn, ãn uống không tiêu, đau bụng đi ngoài.

Tinh dầu bạc hà và mentola dùng làm thuốc sát trùng, xoa bóp nơi sưng đau, như khớp xương, thái dương khi đầu nhức.

Theo Lesieur và J. Meyer bạc hà là một vị thuốc chữa loét dạ dày, làm giảm bài tiết dịch vị và giảm đau. Tính chất của bạc hà theo các tài liệu cổ ghi như sau: Vị cay, mát không độc, vào 2 kinh phế và can, có tác dụng tán phong nhiệt, ra mồ hôi, giảm uất, làm thuốc thanh lương dùng chữa cảm nắng (trúng thử), đau bụng, bụng đầy, chứng ân không tiêu.

Liều dùng lá và loàn cày: Ngày uống từ 4 đến 8g dưới dạng thuốc pha. Tinh dầu và mentola:

Một liều 0,02 đến 0,2ml, một ngày 0,06 đến 0,6ml. Còn dùng dưới hình thức cồn bạc hà (lá bạc hà 50g, tinh dầu bạc hà 5()g, cổn vừa đủ 1 lít), ngày dùng nhiều lần, mỏi lần từ 5 đến 10 hay 15 giọt, cho vào nước nóng mà uổng.

Đơn thuốc có bạc hà (lá và toàn cày) Thuốc chữa nôn thông mật giúp sự tiêu hoú. Lá bạc hà hay toàn cây bạc hà bò rễ 5g, pha vào 200ml nước sôi, cách 3 giờ uống 1 lần. Có thể dùng cồn bạc hà theo cỏng thức kể trên để uống thay, mỗi lần uống 5 đến 10 giọt hay hơn.

Chề chữa cám mạo, nhúc dầu: Lá bạc hà 6g, kinh giới 6g, phòng phong 5g, bạch chỉ 4g, hành hoa 6g. Nưức sôi đó vào chờ 20 phút, uống lúc đang nóng. /

Chú thích:

Ngoài loài bạc hà nam kể trôn, trên thế giới và ngay ở nước ta còn dùng nhiều loại bạc hà khác sau đây:

1. Bạc hà châu Ẳ u – Mentha piperita L. Loài này mọc và được trồng chủ ycu ờ các nước châu Âu, châu Mỹ. Bàn thân loài này cũng không phải là một loài dòng mà do lai nhiều loài khác nhau, giá trị cũng thay đổi tuỳ theo nơi mọc.

nén trong loài Mentha piperita, người ta cho rằng tốt nhất là loài nguổn gốc vùng Mitcham ở Anh. Những nước khác phấn nhiêu đều lấy giống ở đây về trổng, từng thời kỳ lại phải tới đó lấy giống lại.

Trong loài này người ta còn phân biệt ra hai dạng ( Hình 465): a/ dạng xanh hay trắng Mentha piperita var. officinalis forma pallescens có nghĩa là nhạt màu, màu vàng nhạt), hay White mịn; b/ dạng đỏ hay tím Mentha peperiia var. officinalis forma ruhescens Camus hay Black mint hay Menthe poivréc noire (rubescens CÓ nghĩa là đỏ).

Cả hai thứ đểu thân vuông, gẩn như không lông, cao chừng 0,50m cụm hoa mọc thành bông ở đáu cành, khác với loài M. arvensìs có cụm hoa mọc ở kể các lá. Thứ pallescens có thân và lá màu xanh nhạt, hoa màu Ưắng nở rất rõ, thứ rubescens có thân và lá điểm tía, hoa màu đỏ nâu, nở không rõ. Tinh dẩu loài này mùi thơm mát chứ không hắc như tinh dầu bạc hà M. arvensis, nhưng trong tinh dầu tỷ lệ mentol thường thấp hơn 40-65%, menton 6-18%, ngoài ra còn các este axetat, butyrat và izovalerianat mentola.

Chính trong các loài này, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã lựa chọn được loài bạc hà số 541 có tỏi 5,2% tinh dầu trong đó có tỷ lệ tinh dẩu tới 64,4% mentola loài bạc hà lai số 272 có 5,6% trong đó tỷ lệ mentola là 58,8%.

Nãm 1958, chúng tôi có xin được loài bạc hà lai số 272 của Liên Xô cũ mang về ưổng thử hiện nay được phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc nhưng vào hoàn cảnh Việt Nam bị thoái hoá dần.

Tuy nhiên tỷ lệ tinh dầu vẫn cao, 2-3%, mùi rất thơm mát, cần tiếp tục phát triển và nếu có điều kiện cần di thực thêm giống để trồng.

2. Bạc hà Nhật Bản Mentha arvenis L. var. piperascens Malinv. Qua sự nghiên cứu những năm gần đây, người ta cho loài này thực ra cũng do sự lai tạp giữa loài Mentha arvensis L. và loài Mentha aquatica L. Loài này được trồng ở Nhật Bản, lá rất giống lá bạc hà M. arvensis nói trên. Cây bạc hà này hái đợt đầu cho hiệu suất tinh dầu là 0,66%-, hái lần thứ hai 1,6%, lần thứ ba có tỷ lệ 1,57%, bình quân là 1,28%, trong tinh dẩu tỳ lệ mentol là 70-90%, menton là 10-20%, ngoài ra còn pinen, nói chung gần như loài của Trung Quốc.

3. Loài bạc hà cho tinh dầu lưu lan hương còn gọi là lục bạc hầ-Mentha viridis L. (Mentha spicataL.), được ưổng ở các nước Âu Mỹ, gần đây thấy Trung Quốc có khai thác và bán tình dầu sang cho ta. Theo giáo sư Tôn Hùng Tài (Trung Quốc) thì loài bạc hà cho tinh dẩu lưu lan hương trồng thí nghiệm ở Nam Kinh, thuộc loài Mentha citrata Ehrh.

Tỳ lệ tinh dẩu trong loài này là 0,2 đến 0,50%, gọi là Oleum Menthae vindis, thành phần chủ yếu trong tinh dầu này là chất cacvon C|0H14O, tỷ lệ 45-60%, pinen và limonen, khòng chứa mentola ít dùng làm thuốc, chủ yếu dùng trong hương liệu.

Tại Việt Nam, chúng tỏi cất từ loài húng dũi Mentha crispa L. được thứ tinh dầu có chứa 50- 60% cacvon như tinh dầu lưu lan hương (Đỗ Tất Lợi, 1970)

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Bạc hà”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin