Enter your keyword

Bạch chỉ

340,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 1 vote[s]

Tên khoa học Angelica dahurica Benth. et Hook, và Angelica anomala Lallem.

Thuộc họ Hoa tán Apiaceae (Umbelliferae).

Bạch chỉ (Radix Angelicae) là rễ phơi hay sấy khô của cây bạch chỉ (.Angelica dahurica Benth. et Hook) hoặc của cây xuyên bạch chỉ (Angelica anomala Lallem).

A. Mô tả cây

Cây bạch chỉ (Angelica dahurica) còn gọi là hàng châu bạch chỉ là một cây sống lâu năm, cao 1-1,5m, đường kính thân có thể tới 2-3cm, thân rồng, mặt ngoài màu tím hổng, phía dưới thân nhẵn, không có lông, nhưng phía trên, gần cụm hoa thì có lông ngắn.

Lá phía dưới to, có cuống dài, phiến lá 2-3 lần xẻ lông chim, thuỳ hình trứng hay hình trứng dài, dài 2-6cm, rộng ]-3cm, mép có rãng cua, lá phía trên nhỏ hơn, toàn bộ cuống lá phát triển thành bẹ bao ôm lấy thân, hai mặt đều không có lỏng, nhưng trên đường gân của mặt trên có lông ngắn.

Cụm hoa hình tán kép mọc ở kẽ lá hay đầu cành, cuống tán dài 4-8cm, cuống tán nhỏ dài lcm, hoa màu trắng, quả dài chừng 6mm, rộng 5-6mm. Cây này cho vị hàng châu bạch chỉ hay hương bạch chỉ.

Cây xuyên bạch chỉ (Angelica anomala) cũng là một cây sống lâu năm cao hơn cây bạch chỉ 2-3cm, đường kính thân nhò hơn, chỉ chừng lcm. Lá mọc so le cũng 3 lần xẻ lông chim, thuỳ có cuống dài chùng 3cm, những đặc điểm khác gần giống loài trên.

Nói tóm lại cây bạch chi hàng châu thường thấp hơn 1-1,5m, thân to hơn (2-3cm) phiến của thuỳ hẹp lại thành cuống, còn xuyên bạch chỉ có thuỳ mang cuống rõ rệt.

Các vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Sài hồ bắc
  2. Bạch truật
  3. Thương truật
  4. Đương quy

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Bạch chỉ dã được di thực vào nước ta có kết quả, cây mọc tốt, cà ở đồng bằng và những vùng núi cao mát. Nhưng giống thì chi mới dể dược ở miền núi cao, lạnh.

Tại Tam Đảo trồng vào tháng 1-2, tháng 4-5 năm sau ra hoa, nhưng có những cây trồng vào ‘ tháng 7-8 nãm trước thì tháng 4-5 năm sau cùng ra hoa một lúc với cây trồng tháng 1-2. Vào mùa thu, khi lá úa vàng, đào lấy rễ,, cắt bỏ thân và rễ con, rửa sạch đất, sau đáo có nơi cho vào vại có vôi, đậy kín một tuần rồi mới lấy ra phơi khô, có nơi đem phơi ngay, nếu trời mưa thì sấy mong lò, sau đó cạo bỏ vỏ mỏng ngoài.

C. Thành phần hoá học

Trong bạch chỉ có các hoạt chất sau đây: Oxypeucedanin, imperatorin, isoimperatorin, phellopterin, byak-angelixin, izobyakangelicol hay anhydrobyakangelixin có độ chảy 108- 109°c, angelicol, xanthotoxin, neobyakangelicol, marmesin có độ chảy 189,5t>c, năng suất quay cực (a D)+26u8 (trong clorofoc), nodakenetin tả tuyềti (a D)-22°4, scopoletin. Các chất này có cấu trúc cơ bản sau đây {xem trang sau)‘.

Ngoài ra người ta còn chiết được chất alloizoimperatorin có độ chảy 228-230°C (thăng hoa) và 5 metoxy-8-andehytpsoralen có độ chảy 215-217°c, những chất đó vốn không có trong bạch chỉ nhưng có thể xuất hiện trong quá ữình chiết xuất từ những chất izoimpertorin hoặc chất neobyakangelicol mà sinh ra.

Trong xuyên bạch chỉ ngoài chất bergapten, umbelliferon còn có anomalin (độ chảy 105- 1 0 6 °c ). Một tác giả khác đã lấy từ xuyên bạch chỉ.

D. Tác dụng dược lý

Với liều nhỏ, angelicotoxin có tác dụng hưng phấn đối với trung khu vận động huyết quản, trung khu hô hấp và dây thẩn kinh phế vị (nerf vague), làm cho huyết áp tăng cao, nhịp mạch chậm lại, hơi thờ kéo dài, chảy dãi và nôn mửa. Với liều lớn, có thể dẩn tới co giật và toàn thàn tê liệt.

Độc tính của angelicotoxin có thê sánh giống như chất xicutoxin (cicutoxìn), nhung không mạnh côli, trùng lỵ Sonner, trùng trực khuẩn mủ xanh (pyocyanus) và vì trùng thổ tả.

E. Công dụng và liều dùng

Chỉ mới thấy dùng trong phạm vi đông y. Đông y coi bạch chỉ là những vị thuốc có vị cay, tính ôn, vào 3 kình phế, vị và đại tràng.

Có tác dụng phát biểu khứ phong, thẩm thấp, hoạt huyết bài nùng sinh cơ, giảm đau, dùng để làm thần kinh hưng phấn làm cho huyết trong toàn thân vận chuyển mau chóng, làm thuốc thư gàn, ra mổ hôi chữa nhức đầu, răng đau, các bệnh về đầu, mặt, xích bạch đới, thông kinh nguyệt. Dùng ngoài, bạch chỉ có thể dùng chữa sưng vú, tràng nhạc, ghẻ lở, đỡ đau hút mủ.

Thường bạch chỉ được dùng làm thuốc giám đau, chữa nhức đầu, cám mạo, hoa mắt, đau răng, còn dùng làm thuốc cầm máu, đại tiện ra máu, chày máu cam. Ngày dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột chia làm nhiêu lấn uống, mỗi lần uống !-2g.

Đơn thuốc có bạch chỉ dùng trong nhân dân

Trẻ con nóng sốt: Nấu nước bạch chỉ, tắm thật nhanh ở nơi kín gió.

Chữa chứng hôi miệng: Bạch chỉ 30g, xuyên khung 30g. Hai vị tán nhỏ, dùng mật viên bằng hạt ngố. Hằng ngày ngậm thuốc này, môi ngày ngậm chừng 2-3 viên.

Chú thích:

Trong nhân dân Việt Nam còn dùng một vị thuốc với tên nam hạch chỉ, thực ra đó là rễ của cây mát ĩừng~Millettia puỉchra Kurz, thuộc họ Cánh bướm (Papìlionaceae). Cây nhỏ, cao 1,5- l,8m, hoa mọc thành chùm màu tím nhạt, quả đậu hình đao, nhẫn, cứng, mọc hoang ờ nhiều tỉnh như Bắc Giang, Bác Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ.

Rễ to, màu hơi vàng, thường hái ở những cây nhỏ. Dùng sắc cùng một số vị thuốc khác chữa đau bụng, đi ỉa. Trong một số sách thuốc cũ cùa Trung Quốc người ta giới thiệu bạch chỉ là rể Angelica glabra Makino hay Angelica formosana Boiss. họ Hoa tán; nhưng những tài liệu mới nhất thường thống nhất những tên đã giới thiệu ở trên.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Bạch chỉ”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin