Enter your keyword

Bồ kết

150,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Bồ kết hay còn gọi lả tạo giáp, tạo giác, chưa nha tạo giác, man khét (Cămpuchia). Tên khoa học Gleditschia australis Hemsl. (Gledìtschia sinensis Lamk., Mimosa fera Lour.)

Thuộc họ Vang Caesalpiniaceae.

Cây bồ kết cung cấp cho ta những vị thuốc sau đây:

1. Quả bồ kết tạo giác (Fructus Gleditschiae)- là quà bồ kết chúi khô.

2. Hạt bồ kết tạo giác tử (Semen Gleditschiae) là hạt lấy ờ quả bổ kết chín đã phơi hay sấy khô.

3. Gai bồ kết tạo thích, tạo giác thích, thiên đình, tạo tràm (Spina Gleditschiae) là gai hái ò thần cây bồ kết, đem về phơi hay sấy khô’ hoặc thái mỏng rổi phơi hay sấy khô.

A. Mô tả cây

Bồ kết là một cây to cao chừng 6-8m, trên thân có những túp gai có phân nhánh, dài tới ]0-15cm. Lá kép lông chim, cuống chung có lông và có rãnh dọc, 6 đến 8 đôi lá chét, hình trứng dài, dài trung bình 25mm, rộng 15mm.

Hoa màu trắng khác gốc hay tạp tính, mọc thành chùm hình bông. Quả giáp, dài 1-I2cm, rộng 15-20mm, hơi cong hình lười liềm hay thẳng, quả mỏng nhưng ở những nơi có hạt thì nổi phình lên, trên mật quả có phủ lớp phân màu xanh nhạt.

Trong quả có 10-12 hạt dài 10mm, rộng 7mm, dày 4mm, màu vàng nâu nhạt, quanh hạt là một chất cơm màu vàng nhạt. Mùa bồ kết: Tháng 10-11.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Viễn chí
  2. Bách hợp
  3. Thiên môn đông
  4. Cây thuốc phiện

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cày bồ kết mọc hoang và được trồng tại nhiều tỉnh miền Bắc nước ta. Còn thấy mọc tại các tỉnh miền Nam Trung Quốc. Riêng đảo Cát Bà (Hải Phòng) có tới 40.000 cây, hàng năm cho tới 40 tấn bồ kết. Vào tháng 10-11, quả chín, hái về phơi hay sáy khô.

Khi mới hái quả có màu xanh hay hơi vàng, phơi và để lâu có màu đen bóng. Gai bồ kết có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào các tháng 9 đến tháng 3 năm sau, hái về phơi khỏ hoặc nhân lúc gai còn đang tươi, thái mỏng rồi mới phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hoá học

Từ quả bổ kết ở Việt Nam, chúng tôi đã chiết được chất saponin tinh khiết với hiệu suất 10% (G. Herman-I. Ciulei, Đỗ Tất Lợi, Y học tạp chí số 1-1961, 26-29), chất saponin này không mùi, vị nhạt, gảy hắt hơi mạnh, cho với axit sunfuric đặc màu vàng sau sang màu đỏ và tím (phản ứng Kobert), vói phản ứng Lieberman (anhydrit axetic và axit sunfuric đảc) giữa hai lớp chất lỏng cho một vòng màu tím, sau đó lớp trên có màu xanh lục, với axit tricloraxetic nóng (phản ứng Hirschson) cho màu vàng sau ngả sang màu đỏ, độ chảy 198°-202°c, năng suất quay cực -32°, chỉ số phá huyết đối với máu bò 33.000. Saponin này tan trong rượu và nưóc.

Từ chất saponin này, chúng tôi đã thuỷ phân và kết tinh được chất sapogenin có tinh thể hình kim tụ thành hình ngôi sao, không tan trong nước, tan trong ête, cồn và clorofoc, độ chảy 298- 301°c cho phản ứng Lieberman. Hiệu suất sapongenin từ quả bồ kết là 3%.

Năm 1929 (Nhật dược chí số 29), một tác giả Nhật Bản có chiết được từ bồ kết cùng loài nhưng mọc ờ Nhật Bản chất saponin cấu tạo tritecpenic và gọi là gledìtsaponin với hiệu suất 10%, cóng thức thô xác định là CS9H100OM.

Chất saponin này thuỷ phân cho gleditsapogenin và glucoza, ngoài ra còn có arabinoza. Chỉ sô’ phá huyết của gleditsapogenin đối với máu sơn dương là 75.000.

Năm 1963, Bùi Đinh Sang có chiết được từ bổ kết Viột Nam saponin, men peroxydaza và hai chất khác có tinh thể chưa xác định được tính chất.

Nàm 1969, Ngô Thị Bích Hải đã chiết dược từ quả bổ kết mọc ờ Việt Nam 8 chất flavonoit và 7 hợp chất tritecpen: 5 trong số 8 chất flavonoit đã được rút ra dưới dạng tinh khiết và xác định là luteolin, saponaretin, vitexin, homoorientìn và orientin.

Phần aglycon của hợp chất tritecpen là axit oleanolic và echinoxystic. Phần đường là xyloza, arabinoza, glucoza và galactoza. Ngoài ra tác giả còn chiết được một saponin mới là australozit.

D. Tác dụng dược lý

Sơ bộ nghiên cứu tác dụng dược lý, Ngô Thị Bích Hải đã thấy rằng hỗn hợp flavonozit và chất saponaretin riêng biệt có hoạt tính chổng siêu vi trùng; hỗn hợp saponin bổ kết có tác dụng đối với trùng roi âm đạo, hỗn hợp saponin và flavonoit có tác dụng giảm đau. Trong Trung Hoa y học tạp chí (1954, 5: 411), 2 tác giả Trung Quốc đã báo cáo nước sắc bồ kết có tác dụng trừ đèrm. Khi tiêm chất gleditsapogenin vào tĩnh mạch thỏ với liểu 40-47mg trên lkg thể trọng thì thỏ chết (Nhật dược chí 1928, 48: 146).

E. Công dụng và liều dùng

Nước bổ kết gội đầu, giạt quần áo lụa, len có màu không bị 6. Ngoài việc dùng bó kết làm nguyên liệu dể chế chất saponin, bồ kết còn dược dùng trong đông y để chữa nhiều bênh khác nhau.

Bồ kết: Theo các tài liệu cổ thì bồ kết (bỏ hạt, hoặc dốt ra than, hoặc tán nhỏ làm thành viên hay thuốc bột) có vị cay, mận, tính ôn hơi có độc, vào 2 kinh phế và đại tràng.

Có năng lực thông khiéu, tiêu đờm, sát trùng, làm cho hắt hơi dùng chủ yếu chữa trung phong cấm khẩu phong tê, tiêu đồ ăn, đờm xuyễn thũng, sáng mắt, ích tinh. Liều dùng hằng ngày 0,5 đến lg dưới dạng thuốc bột, hay đốt ra than mà dùng, hoặc thuốc sắc.

Hạt bồ kết: Trong sách cổ nói hạt bồ kết vị cay, tính ôn, không độc, có tác dụng thông đại tiện, bí kết, chữa mụn nhọt, dùng với liều 5-10g dưới dạng thuốc sắc. Gai bổ kết (tạo thích, tạo giác thích): Có vị cay, tính ôn, không độc.

Chữa ác sang tiêu ung độc, làm xuống sữa. Liều dùng 5-1 Og dưới dạng thuốc sắc.

Hiện nay, một số bộnh viện dùng bổ kết để thông khoan chữa bí đại tiện và khòng trung tiện được sau khi mổ, chữa tắc ruột có kết quả, có thể dùng cho cả trẻ em lẫn người lớn, thường chỉ sau 5 phút là tháo phán ngay (Y học thực hành số 58, 6-1960 và 63, 11-1960).

Cách làm đơn giản như sau: Lấy 1/4 quả bồ kết, nướng thật vàng, đừng nướng cháy quá hay còn sống, bỏ hột đi rồi tán thành bột nhỏ. Lấy canulơ, dầu có bôivadơlin hay dẩu, chấm vào bột bổ kết, sau đó cho vào hậu môn sâu độ 3-4cm, cứ thế làm 3-4 lần cho bột vào trong hậu môn, sau 2 đến 5 phút bệnh nhân đi ngoài được, có trường hợp hâu phẫu không trung tiện được 2 đến 5 ngày, bệnh nhàn chướng bụng, bệnh nhân bí đại, trung tiện, nôn mửa liên tục có khi nôn ra máu mà làm như trên chỉ sau 2 phút trung tiện và đi ngoài được ngay, có bệnh nhân ra tới 500 con giun.

Đơn thuốc có bồ kết dùng trong nhân dán

Thuốc chữa ho: Bồ kết lg, quế chi lg, đại táo (táo đen) 4g, cam thảo 2g, sinh khương lg, nước 600ml; sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa nhức ràng, sâu ráng: Quả bồ kết tán nhỏ, đắp vào chân răng, hễ chảy dãi ra thì nhổ đi.

Chữa trê con chốc đàu, rụng tóc: Bồ kết đốt ra than, tán nhỏ rửa sạch vết chốc, rồi đắp than bồ kết lên. Chữa đi lỵ láu ngày: Hạt bồ kết sao vàng, tán nhỏ, dùng hồ nếp viên bàng hạt ngô. Ngày dùng 10 đến 20 viên, dùng nước chè đăc mà chiêu thuốc (nén uống buổi sáng sớm khỏi mất ngủ).

Chữa phụ nữ sưng vú: Gai bồ kết thiêu tồn tính 40g, bạng phấn 4g. Hai vị đều tán nhỏ, trộn đều, mỗi lẩn uống 4g bột này.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Bồ kết”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin