Enter your keyword

Cẩu tích

210,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Cẩu tích hay còn gọi là rễ lông cu ly, kim mao cẩu tích, cẩu tồn mao, cây lông khỉ.

Tên khoa học Cibotium barometz (L.) J. Sm.

Thuộc họ Lông cu ly Dicksoniaceae.

Cẩu tích hay kim mao cẩu tích (Rhizoma Cibotii) là thân rỗ phen hay sấy khô, có khi thái mỏng, phơi hay sấy khô cùa cây lòng cu ly.

Cẩu là con chó, tích là lưng, xương sống.

Vì vị thuốc chưa thái giống lưng con chó, do đó có tèn này.

A. Mô tả cây

Cây lông cu ly là một loại quyết thực vật, có khi cao tới 2,50m. Lá dài đến 2m, phủ bởi nhiều vẩy vàng bóng, ờ mỗi bên gân giữa bậc ba, có một hay hai ổ tử nang.

Thân rễ có lông tơ màu vàng bao phủ, trông tựa như con chó con hay như con cu ly. Vì thân rể cây này trông giống con vật cho nên ngày xưa tại châu Âu hồi thế kỷ thứ 16-17, người ta cũng cho nó là một con vật và đặt tên là Agnus scynthius.

Người ta cho rằng cây động vật này sinh ra do một hạt dính vào rễ, có máu và thịt như một con vật ăn cỏ. Vì con vật này không đi lại được cho nên sau khi nó ăn hết cỏ xung quanh nơi nó được sinh ra thì nó chết đi.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Ô Dược
  2. Thảo quyết minh
  3. Thạch quyết minh
  4. Kha tử

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cẩu tích mọc hoang kháp nơi ờ miền rùng núi Việt Nam, Lào, Cãmpuchia, Philipin, Malaixia và Inđônêxia. Miền nam Trung Quốc (Quàng Đông, Quàng Tây, Phúc Kiến, Vàn Nam) cũng có.

Thu hái quanh nãm, nhung tốt nhắt vào cuối thu sang đòng. Khi hái về thì rửa sạch c ắ t b ò T ẻ con, cuống lá và lông vàng phủ xung quanh thân rẻ, thái mỏng, phơi khô.

Có khi đồ hơi nước rổi mới phơi, làm như vậy nhiều lần; có khi lại còn đổ với đậu đen chín lẩn đồ, chín lán phơi rồi cuối cùng thái mỏng phơi khô.

C. Thành phần hoá học

Hoạt chất chưa rõ. Hiện mới biết trong thân rễ có tinh bột.

D. Công dụng và liều dụng

Chỉ mới được dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc bổ gan, thận chữa đau lưng, đau khớp xương, đâu gối, chữa phong thấp.

Người già hay đi tiểu tiện nhiẻu lổn. Ngày dùng 10-18g dưới dạng thuốc sắc. Còn dùng chữa bệnh phụ nô khí hư, bạch đới, phụ nữ có thai mà lưng, người đều đau.

Theo tài liệu cổ: cẩu tích có vị đấng, ngọt, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh Lưng gối, tru phong thấp, chữa phong hàn, thấp tỳ, lưng đau chân mỏi, thất niếu (không đi đái được), lâm lô (đái nhỏ giọt).

Những người thận hư hữu nhiệt, tiểu tiện bất lợi hoặc đỏ vàng không dùng được.

Đơn thuốc có cẩu tích

Chữa ngang lưng đau nhức

Kinh nghiệm nhân dân• cẩu tích 15g, ngưu tất lOg, đổ trọng 10g, sinh mễ nhân 12g, mộc qua 6g, nước 600ml. sắc còn 200ml. Chia 3 lẩn uống trong ngày. Có the thêm 20ml rượu trong khi uống thuốc, nếu uống được rượu.

Chú thích:

Ngoài thân rẻ cẩu tích, người ta còn dùng lòng vàng phủ xung quanh thân rễ để đắp các vết thương, vết đứt tay, đứt chân để cầm máu.

Tấc dụng này do các lông dó hút huyết thanh cùa máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông. Có khi người ta còn dùng lông này để nhồi đệm, nhồi gối.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Cẩu tích”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin