Enter your keyword

Củ cốt khí

450,000

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

Củ cốt khí hay còn gọi là hoạt huyết đan, tử kim long, ban trượng căn, hổ trượng căn, điền thất (miền nam).

Tên khoa học Reynoutria japonica Houtt. Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc. Polygonum reynoutria Makino.

Thuộc họ Rau răm Polygonaceae. Củ cốt khí (Radix Polygoni cuspidati) là rễ phơi hay sấy khô cùa cây củ cốt khí.

Cần chú ý là chữ cốt khí còn dùng chỉ hạt và lá của nhiều cây khác thuộc họ Đậu.

Đậc biệt, qua cuộc điều tra nghiên cứu, chúng tôi chỉ thấy có cây này Rcynoutria japonica mang tên cốt khí lại thuộc họ Rau răm.

A. Mô tả cây

Cây Củ cốt khí là một cây nhò sống lâu năm, thân mọc thẳng, thường cao 0,50-lm nhưng đặc biệt có nơi cao tới 2m.

Thân không có lông, trên thân và cành thường có những đổm màu túm hồng. Lá mọc so le có cuống ngắn.

Phiến lá hình trứng, rộng, đầu ưên hơi thắt nhọn, phía cuống hoặc hơi phàng hoặc hẹp lại, mép nguyên, dài 5-12cm, rộng 3,5-8cm, mặt ưên màu xanh nâu đậm mặt dưới màu nhạt hơn. Cuống dài l-3cm. Bẹ chìa ngắn.

Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, mang rất nhiều hoa nhò. Cánh hoa màu trắng. Hoa khác gốc. Hoa đực có 8 nhị: Hoa cái có bầu hình trứng với 3 cạnh, 3 núm. Quả khô, 3 cạnh, màu nâu đỏ.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Hy thiêm
  2. Tỳ giải
  3. Cẩu tích
  4. Thảo quyết minh

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây cốt khí mọc hoang ở nhiéu nơi đặc biệt rất nhiều ờ Sapa: Mọc hoang ở đồi núi hoặc ven đường. Miền đồng bằng có mọc và được trồng để lấy củ làm thuốc. Trồng bằng củ, rất dẽ mọc. Còn thấy ở Trung Quốc (Giang Tô, Triết Giang).

Trổng thử ờ đồng bằng, chúng tôi thấy cây ra hoa vào các tháng 8-9, ra quà vào các tháng 9-10. Thường người ta ít chú ý vì hoa quả rất nhỏ cho nên ít người trông thấy nên thường người ta nói cây này không có hoa.

Mùa thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu (tháng 8-9), có nơi thu hái vào các tháng 2-3. Đào về, cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất cát cắt thành từng mẩu ngắn dài khởng đều hoặc thái mỏng, phơi hay sấy khô. VỊ thuốc dài ngắn không đều, thường dài l-8cm, đường kính 0,6-2cm, mặt ngoài màu nâu vàng, khi bẻ hay cắt ngang có màu vàng; mùi không rõ, vị hơi đắng.

C. Thành phần hoá học

Trong rễ cày này có antraglucozit chù yếu là émodin hay rheum emodin C)5H10Os, emodin monometyl ête C16H120 5 dưới dạng tự do và kết hợp. Ngoài ra còn có chất polygonin C2|H20O10 và tanin.

D. Công dụng và liều dùng

Trong nhàn dân Việt Nam củ cốt khí là một vị thuốc dùng chữa tỗ thấp, do bị ngã, bị thương mà tổn thương đau đớn; còn là một vị thuốc thu liễm cầm máu.

Vị thuốc được ghi trong bộ Bản thảo cương mục cùa Lý Thời Trân (Trung Quốc, thế kỷ 16).

Theo tính chất ghi trong tài liệu cổ thì vị thuổc có tác dụng lợi tiểu, thông kinh, giảm đau giảm độc, dùng cho những người bị kinh nguyệt bế tác, kinh nguyệt khó khăn đau đơn, do bị ngã bị thương mà đau đớn, đẻ xong huyết ứ, bụng trướng, tiểu tiên khó khăn.

Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu cùng nhiều vị thuốc khác mà uống.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Củ cốt khí”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin