Enter your keyword

Đại hoàng

460,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Đại hoàng hay còn gọi là xuyên đại hoàng, tướng quân.

Tên khoa học Rheum sp.

Thuộc họ Rau răm Polygonaceae.

Đại hoàng (Rhizoma Rhei) là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều loại đại hoàng như chưởng diệp đại hoàng Rheum palmatum L., đường cổ đặc đại hoàng Rheum tanguticum Maxim, ex Regel (Rheum pơlmatum L. var. tanguticum Maxim.) hoặc dược dụng dại hoàng Rheum officinale Baill. hoặc một vài loài Rheum khác, tất cả đều thuộc họ Rau răm (Pởỉygonaceae).

Vì vị thuốc màu rất vàng cho nên gọi là đại hoàng, vì có khả năng tống cái cũ, sinh cái mới rất nhanh chóng như dẹp loạn cho nên còn gọi là tướng quân.

A. Mô tả cây

Chưởng diệp đại hoàng-Rheum palmatuni L. là một cây sống láu năm, rễ thô, to, thân cao tới 2m, giữa rồng, mặt thân nhẵn. Lá ờ dưới to dài, có cuống dài, phiến lá hình tim cắt thành 3-7 thuỳ, mép thuỳ hơi có răng cưa hoặc hơi cắt, lá ờ phía trẽn thân nhỏ hơn.

Cụm hoa mọc thành chùm khi còn non, hoa có màu tím dỏ. Cây này chủ yếu mọc hoang và một phẩn được trồng ở Tứ Xuyên, Cam Túc (Trung quốc) ( Hình 350 ). Đường cổ đặc đại hoàng Rheum tanguticum Maxim ex Regel cũng là một cây sống làu năm cao tới 2m, lá có phiến cắt rất sáu thành thùy.

Cây này mọc hoang ờ Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc. Tại Cam Túc có trổng một số

Cây dược dụng đại hoàng (R h eu m o ffic in a le Baill.) cũng là một cây sống lâu năm, nhưng thâp hơn, chì cao chừng l,50m.

Lá mọc so le có cuống dài; phiến lá hình trứng phía cuống hình tim, đường kính 40-70cm, phiến khống chia thuỳ mà chỉ cắt sâu chừng 1/4. Hoa màu xanh nhạt hay vàng trắng nhạt.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Kha tử
  2. Ngũ gia bì
  3. Ô Dược
  4. Bách bệnh

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Những loài đại hoàng đang được di thực vào nước ta. Cây mọc tốt, ưa khí hậu mát ẩm, độ cao trên 1 .OOOm thì thích hợp hơn.

Hiện ta phải nhập của Trung Quốc: Trước kia nhập cả của một số nước Châu Au. Thường hái thân rễ của những cây đã sống trên 3 năm.

Đào vào các tháng 9-10. Đào vể rửa sạch đát cát, cắt bỏ phần trên mặt đất, rễ nhỏ, cạo vỏ ngoài, củ to quá có thể bổ hai hay tư mà phơi cho dễ, dùng lạt xâu treo trong thêm nhà để cho khô dần hoậc có thế sấy nhẹ cho khô. Sau khi khỏ là dùng được (nếu dùng trong nước) hoặc cạo bỏ vỏ ngoài rồi đánh bóng nếu để xuất.

C. Thành phần hoá học

Trong đại hoàng có hai loại hoạt chất tác dụng trái ngược nhau.

1. Loại hoạt chất có Ưnh chất thu liễm-là hợp chất có tanin (rheotannoglucozit).

2. Loại hoạt chất có tác dụng tây; Rheoanthraglucozit.

Thành phần chủ yếu trong các rheotanoglucozit là glucogalin. Khi thuỷ phân, glucogalin sẽ cho axit galic và glucoza.

Ngoài ra còn có axit galic, catechin và tetrarin. Khi tetrarin chịu tác dụng cùa axit loãng sẽ cho glucozareosmin (rheosmin), axit xinamic và axit galic.

Trong các reoantraglucozit, chúng ta thấy cắc chất chủ yếu sau đắy:

– Cryzophanol (chrysophanol) CI5H(0O4

– Aloe-emođin C)5H)0O5 – Rein (rhein) C15Hh0 6

– Emođin hay rheum emođín Cl3Hl0Os

– Emođin-monometyl-ête

Tỷ lệ các antraglucozit toàn bộ trong đại hoàng vào chùng 2-4,5%, trong đó một phẩn ở trạng thái tự do, một phđn ờ trạng thái kết hợp.

Theo Wasicky và Heinz thì trong đại hoàng tươi chủ yếu có antraglucozit ở dạng kết hợp mà không có ờ dạng tự do.

Tuy nhiên, theo I. Kroeber (1923), tác dụng tẩy của đại hoàng không phụ thuộc hoàn toàn vào tỳ lệ antraglucozit tháp mà vần tác dụng tẩy mạnh hoặc có loại đã láy bớt antragJucozit di rồi mà tấc dụng vẩn còn.

D. Tác dụng dược lý

1. Kích thích sự co bóp của ruột:

Tác dụng chậm, chừng 5-10 giờ sau khi uống mới thấy tác dụng, có khi láu hơn.

Phân mềm, vàng hay nâu sẫm, màu này môt phần do màu của đại hoàng, một phẩn do chất mật tiết ra nhiều hơn.

Thường không thấy đau bụng, tuy nhiên đôi khi thấy buồn nôn, chóng mặt hay nổi mẩn.

Do tác dụng sung huyết đối với các mạch máu trĩ cho nên không nên dùng đối với người bị trĩ và cũng không nên dùng cho những người hay bị táo vì thường sau khi gây tác dụng nhuận tràng, đại hoàng hay gây táo bon mạnh hơn trước.

Vì trong đại hoàng có chứa nhiều canxi oxalat cho nên không dùng lâu cho những người bị kết thạch thận oxalic hay sổ nước nang (catarrhe vesical) vì nó có thể gây ra bệnh đái ra oxalat.

Các chất màu thám qua máu, nước tiểu và mồ hỏi, sữa v.v… tất cả các chất bài tiết đều có màu vàng và nếu nước tiểu có phản ứng kiềm, nước tiểu sẽ có màu đỏ. Sữa mẹ có tác dụng táy đối với con đang bú sữa mẹ.

2. Do các reotanoglucozit, dại hoàng có tính chất bổ, thêm vào tính chất gây co bóp nhẹ với liều thấp của các antraglucozit.

3. Còn có tác dụng diệt khuẩn (staphyllococcus, lỵ, thương hàn, tà).

E. Công dụng và liều dùng

Đại hoàng được dùng cả ưong đông y và tây y. Theo tài liệu cỗ đại hoàng vị đắng tính hàn, vào 5 kinh tỳ, vị, can, tâm bào và đại trường.

Có tác dụng hạ vị tràng tích trộ, tả huyết phận thực nhiệt hạ ứ huyết, phá trưng hà (kết báng ờ bụng) hàn thuỷ.

Dùng chữa hạ ly, ứ huyết, kinh bế thuỷ thũng, thấp nhiệt gây vàng da, ung thũng đinh độc. Hiện nay dùng với liều nhẹ làm thuớc giúp sự tiêu hoá, chữa kém ăn, ãn không tiêu, da vàng, hay đau bụng. Ngày uống 0,10-0,50gam dưới dạng sắc, bột, hay thuốc viên.

Dùng với liều cao làm thuốc tẩy nhẹ, dùng cho nguời đầy bụng, đi lỵ, hoàng đản (da và mắt vàng). Ngày uống 3-10g. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác như chỉ thực, hậu phác, hoàng liên, mang tièu v.v…

Đơn thuốc có đại hoàng

Chữa đau bụng, bí đại tiện, nôn mửa Đại hoàng cam thảo thang: Đại hoàng 7g, cam thảo 4g, nước 300ml, sắc còn 100ml. Uống lúc đói (đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh). Chữa hắc lào. Đại hoàng 10, dâm 5ml, rượu 50ml. Ngâm trong 10 ngày, lấy ra bôi lên các vết hắc lào đã rửa sạch

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Đại hoàng”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin