Enter your keyword

Đại hồi

310,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 6 vote[s]

Đại hồi hay còn gọi là hồi, bát giác hồi hương, đại hồi hương .

Tên khoa học Ịlìicium verum Hook.f.

Thuộc họ Hồi Ilììcìaceae.

Đại hồi hay bát giác hồi hương (Fructus AnisiStellati hoặc Anisum stellatum hay Illicìum) làquả chín phơi khô của cây hồi.

Hồi là về, hương là thơm, thịt thiu hay tươngthối cho ít đại hổi vào nấu thì mùi thơm lại trờ vểdo đó có tên.

A. Mô tả cây

Đại Hồi là một cây nhỡ cao 2-6m, hình dáng toàncây thon hình quả trám, xanh tốt quanh năm,thân mọc thẳng, cành dễ gẫy.

Lá mọc gần thànhchùm 3-4 lá ở đầu cành, có cuống, phiến lánsuyên, dài 8-12cm, rộng 3-4cm, dòn, vò nátcó mùi thơm.

Hoa khá to, mọc dơn độc ở kẽ lá,cánh hoa màu trăng ở phía ngoài, hổng thấm ởmặt trong. Quả hồi (nhân dân vản gọi nhầm làhoa hồi) tiếng Thổ là mác hổi hay mác chác gồm6-8 đại (cánh), có khi tới 12-13 đại xếp thànhhình ngôi sao, đường kính trung bình 2,5-3cm,dày 6-10mm.

Tươi có màu xanh, khi chín khôcứng thì có màu nâu hồng.

Trên mối dại sẽ nứtlàm hai, đê lộ một hạt màu nâu nhạt, nhẵn bóng.Lá, cuông, hoa và quả đểu chứa tinh dầu.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Trinh nữ hoàng cung
  2. Tỳ giải
  3. Tầm duột
  4. Gối hạc

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây đại hồi đặc biệt chi mọc trong một khu vựcnhò chiếm khoảng 5.000km2 ờ tỉnh Cao Bằng,Lạng Sơn, một số ít ở hai tỉnh Quảng Tây vàQuảng Đông (Trung Quốc) giáp giới Việt Nam.Một số nơi khác cũng có trổng nhưng khôngđáng kể như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn,Thái Nguyên.

Trước đây người ta thường lẫn nóvới cây hồi Nhật Bản IÌIicium anisatum Lour, cóchất độc, hoặc cây hồi núi llìicium griffithii (xemcây này) cũng có chất độc.Hổi hái vào hai vụ tháng 7-8 (hồi mùa) và 11-12 (hồi chiêm).

Ngoài hai vụ chính, còn một vụ quả lép rụng sớm \ao tháng 3. Hồi hái về phơi nắng chõ khô hẳn. Dùng cất tinh dáu hay tiêu thụ nguyên quả làm thuốc.

Mỗi cây, hàng nãm cho từ 80-100kg quả tươi và như vậy luôn trong 40-50 nãm. Thường một năm được mùa, một nãm kém. Trên thị trường người ta chia hồi thành ba loại.

Loại 1: có 8 cánh to đểu nhau, màu nâu đò (hổi đại hồng).

Loại 2: có 1 cánh trở lên bị lép, màu nâu đen.

Loại 3: có 3 cánh trở lên bị lép, màu nâu đen.

Loại hồi xô gồm lẫn lộn cả 3 loại trên.

C. Thành phần hoá học

Trong quả hồi ngoài các chất như chất nhầy, đường, chủ yếu chứa tinh dầu từ 3-3,5% (tươi) hoặc 9-10% hay hơn (khổ). Tinh dầu hồi là một chất lỏng không màu, hay vàng nhạt, tỷ trọng ở +15°c từ 0,980 đến 0,990, đô đông đặc từ 14- 18°c.

Trong tinh dẩu có 80-90% anethol, còn lại là tecpen, pinen, dipenten, limonen, estragola, safrola, tecpineola v.v…

Lá hổi cũng chứa tinh dầu với thành phần gần tương tự. Độ đông đặc hơi thấp hơn (13- 14°C), nhưng nếu trộn cả tinh dầu lá và tinh dẩu quả thì ta được một tinh dầu có đô dông vào khoảng 10UC.

D. Công dụng và liều dùng

Đại hồi là một vị thuốc được dùng trong cả dõng y và tây y. Tây y dùng hồi làm thuốc trung tiện (carminatif), giúp tiêu hoá, lợi sữa.

Tác dụng trên hệ thống thần kinh và cơ (dịu đau, dịu co bóp) được dùng trong đau dạ dày, đau ruột và trong những trường hợp dạ dày và ruột co bóp quá mạnh. Ngoài ra còn được dùng làm rượu khai vị, làm thơm thuốc đánh rãng.

Tuy nhiên nêu dùng nhiều và với liều cao quá sẽ gây ngộ độc, với hiện tượng say, run chăn tay, sung huyết não và phổi, trạng thái ngây có khi tói co giật như dộng kinh. Theo tài liệu cổ đại hồi có vị cay, tính ôn, vào 4 kinh can, thận, tỳ và vị.

Có tác dụng đuổi hàn, kiện tỳ, khai vị, dùng chữa nôn mửa, đau bụng, bụng đầy chướng, giải độc của thịt cá. Những người ám hư, hoà vượng không dùng được.

Thường dùng hiện nay làm thuốc giúp sự tiêu hoá, ãn uống không tiêu, nôn mửa, đau nhức tê thấp. Mồi ngày dùng 4 đến 8g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài ngâm rượu xoa bóp chữa đau nhức, tê tháp. Ngoài ra hồi còn được dùng làm gia vị, chế húng lìu nấu thịt bò, các thịt khác.

Những vị thuốc khác mang tên Hồi

Ngoài cày đại hồi nói trên, hiện ta dang di thực- thêm cày tiểu hồi hay hổi hương có tên khoa học Foeniculum vulgare Miller (FoenicIlium capììỉaceum Gilibert) thuộc họ Hoa tán (Umhelliferae). Đây là một loại cỏ nhỏ, phiên lá cất thành sợi nhỏ, thoáng trồng giống lá cây thìa là (Anethum graveoỉens L. cùng họ).

Toàn cây vò có mùi thơm của hồi. Quả nhỏ như hạt thóc được dùng làm thuốc với tên hổi hương hay tiểu hồi hương hoặc tiểu hoi-FoeniruIum-Fmctus Foeniculi. Trong quà có 3-12% tinh dầu với thành phần chủ yếu là 50- ,70% anethol, ngoài ra còn estragol, metyleugenol, andehyt và axeton anisic, camphen. Cùng một công dụng như đại hổi.

Tại các hiệu “thuốc tây” ỏ nước ta trước đáy, cũng như Dược điển các nưdc châu Âu thường dùng quả một cây khác:

Dương hồi hươngPimpinella anisum L. cũng thuộc họ Hoa tán (Umbelliferae). Quả nhò hình trứng, dưới đáy phình ra. Thành phần và công dụng tương tự như đại hổi và tiểu hồ

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Đại hồi”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin