Enter your keyword

Đỗ trọng

410,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Tên khoa học Eucommìa ulmoides Oliv.

Thuộc họ Đỗ Trọng Eucommiaceae.

Đỗ Trọng (Cortex Eucommìae) là vò phơi hay sấy khô của cây đỗ Trọng.

Xưa kia vì có người họ Đỗ tên Trọng dùng vị thuốc này, do đó mà đăt tên.

A. Mô tả cây

Đỗ Trọng là một cây to hay nhỏ, có thể cao tới 10m, 20m, luôn luôn xanh tươi.

Liên Xô cũ đã biến cẶy này thành cây nhỏ cao 3-3,5m để tiện cho việc thu hoạch; lá mọc so le, hình trứng rộng, đầu lá nhọn, gốc lá tròn, mép lá có răng cưa, khi đứt lá làm 2-3 mảnh sẽ thấy những sợi nhựa trắng như tơ giữa các mảnh lá đó liền nhau, phiến lá rộng 3,5-6,5cm, dài 6-13cm. Cuống lá ngắn 1-1,5cm. Hoa đơn tính.

Hoa đực, hoa cái khác gớc; không có bao hoa. Quà hình thoi dài 3cm, rộng lcm dẹt, đầu quả xè làm 2 thành hình chữ V.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Câu đằng
  2. Hoa hoè
  3. Cỏ nhọ nồi
  4. Mộc thông

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây đỗ trọng hiện chưa thấy mọc hoang ở Việt Nam. Năm 1958 chúng tôi đưa giống cùa Trung Quốc về trồng nhưng chưa thành công.

Năm 1965 chúng tôi đã ưồng thử đỗ trọng bằng hạt ngay tại Hà Nội. Cây mọc và phát triển rất tốt. Đến tháng 9/1969 cây vẫn sống (1).

Cây mọc được cả ở những nơi lạnh như Sapa (Lào Cai). Gần đây ở Việt Nam đã trồng nhiều hơn luy nhiên số lượnn chưa đù nên hiện nay vị đỗ trọng chính thức vản phải nhập. Trên thị trường có bán nam đỗ trọng là vỏ của những cây khác, nên chú ý để tránh nhầm lăn (xem chú thích ờ dưới).

Đỗ trọng được trồne ở Trung Quốc (Vân Nam. Quảng Đỏng, Quàng Tày, Tứ Xuyên. Quý Châu v.v…) và ở Liên Xô cũ (miền Nam).

Vào mùa hạ, bóc vỏ ờ những cây có đường kính to, ép cho phảng, xép thành đống, chờ 6-7 ngày cho đổ mổ hôi, mạt trong có màu đen nâu bấy giờ mới đem phơi khô. vỏ mỏng, mặt ngoài màu xám, mặt trong đen nâu nhạt, khi bè có các sợi trắng như tơ giống như mành mành.

C. Thành phần hóa học

Đỗ trọng được nhiều người nghiên cứu để sử dụng chất nhựa của nó có tính chất như cao su.

– Theo J. Parkin (1921) ương đỗ trọng có 5% độ ẩm; 2,5% tro; 70% nhựa và 22,5% gutta pecka.

Tuy nhiễn chất gutta pecka này có tính chất đàn hồi kém gutta pecka thật, việc chiết xuất lại khó khản, hiệu suất thu được chỉ 2% trong khi chiết xuất ờ các cây khác có gutta pecka hiệu suất thu đươc cao gấp 2-3 lần.

– Từ sau đại chiến lần thứ 2, Liên Xô cũ trồng rất nhiều ở vùng Capcadơ để lấy chất gutta pecka. Theo sự nghiên cứu của các nhà bác học Liên Xô cũ trong vỏ cây dồ trọng có 3-7% chất có tính chất của gutta pecka, trong lá có 2%, trong quả 27,34%.

Ờ nhiệt độ 45-70″, chất gutta pecka của đỗ trọng có tính chất dẻo rất cao, khá nâng-chịu nước biển và độ cách điện cũng cao do dó dùng làm vật cách điện và để bọc dây điện ngẩm dưới biển.

Ngoài chất như gutta pecka, trong đỏ trọng có chứa chất màu, chất anbumin, chất béo, tinh dầu và muối vô cơ. (]) Trên núi Ba Vì ờ độ cao 400 và 800m L Ó trổng dỗ trọng, cây phát triển kém, bị chết nhiều. Trong lá có tanin và nhựa. Không có ancaloit. Dù sao, hoạt chât cũng chưa rõ. .

D. Tác dụng dược lý

N. V. Sapdinscôi (Phòng dược lý viện VNIFI, Liên Xô cũ-1950) đã nghiên cứu và xác định vị đỗ trọng khồng có độc.

Với liều vừa phải, có tác dụng kích thích. Với lieu cao có tác dụng ức chế hộ thống thân kinh trung ương, nhất là vùng vò não.

Tác dụng hạ huyết áp do tác dụng trên trung tàm vận mạch ở hành tủy và trên mê tẩu thần kinh (nerf vague). Đỏ trọng còn có tác dụng làm mạnh sự co bóp cùa cơ tim.

Nước sắc đỗ trọng tăng lượng nước tiếu đôi với chuột bạch và tàng sức đối với cơ nhẵn cứa sừng tử cung và ruột.

E. Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cò: Đỗ trọng vị ngọt hơi cay, tính ôn, vào hai kinh can và thận. Có tác dụng bổ can, thận, mạnh gân cốt, an thai, dùng chữa đau lung, đi tiểu nhiểu, chân gối yếu mềm.

Trong Bàn thảo cương mục có chép: “Bàng Nguyên Anh kể lại: Xưa có người thiếu niên mới lấy vợ bị bệnh yếu chân không đi được, uống các thuốc không khỏi, sau có lương y Tôn Lãm bắt mạch đoán rằng bệnh đó là do thận hư, cho uống đỗ trọng chỉ trong 10 ngày là khỏi”.

Dùng riêng hoặc phối hợp Víới các vị thuốc khác. Liều dùng: ngày uống 5-12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Tại Liên Xô cũ, tù năm 1951 đã công nhận đỗ trọng là một vị thuốc chính thức để điều trị bệnh cao huyết áp. Dùng dưới dạng thuốc sắc, cao lỏng hoặc rượu đỗ trọng (20% trong rượu 30°).

Đơn thuốc có đỗ trọng

Theo Liên Xô cũ: Can lỏng dỗ trọng: 25g, mỗi lấn uống 15-30 giọt. Ngày uống 2-3 lấn. Rượu dỗ trọng: 15g, mỗi lần dùng 15-30 giọt. Ngày dùng 2-3 lần.

Đơn thuốc trong dỏng V. Chữa các bệnh sau khi sính nở, thai không yên: Đỗ trọng (cạo vỏ, sắc) giã với táo đỏ Trung Quốc (táo tầu) viên bang hạt đậu. Ngày uống 2 lần, mỗi làn 10 viên.

Chú thích:

Hiện nay ở Việt Nam, ta đang khai thác vỏ một số cây với tên nam đỗ trọng; vỏ dày, tơ ít và ngắn hơn. Không phải vị đỗ trọng nói ở trên.

Cấn nghiên cứu để xác định lại tên và giá trị chữa bệnh. Theq các tài liệu cũ (Pételot, 1953) ở nước ta có khai thác vỏ cây cao su với tôn đổ trọng Parameria glandulifera Benth thuộc họ Trúc đào Apncynaceae. Ngay ở Trung Quốc, một số tinh cũng dùng với tên đỏ trọng vỏ một củy khác thuộc chi Evonymus hoặc Celastrus thuộc họ Vệ mâu Ceìastraceae.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Đỗ trọng”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin