Enter your keyword

Đương quy

295,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 5 vote[s]

Cây Đương quy hay còn gọi là tần quy, vân quy.

Tên khoa học Angelica sinensis (Oliv.) Diels, (Angelica polymorpha Maxim, var. sinensis Oliv).

Thuộc họ Hoa tán apraceae (Umbelliferae).

Đương quy (Radix Angelỉcae sinensis) là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy. Quy là vé, vì vị thuốc này có tác dụng điểu khí, nuối huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ do đó có tên như vậy.

A. Mô tả cây

Đương quy là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc.

Lá mọc so le, 2-3 lần xè lống chim, cuống dài 3-12cm, 3 đôi lá chét; đối lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên đỉnh không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gẩn 1/2 cuống, ôm láy thân.

Hoa rất nhỏ màu xanh trắng. Đương quy – Angelica sinensis 55 họp thành cụm hoa hình tán kép gồm 12-40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 7-8.

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lấn thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi. Nhưng mới đây chúng ta đã ưổng thành công đương qui ở vùng đổng bằng quanh Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác.

Tại Trung Quốc, đương quy được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây. Hằng nãm vào mùa thu gieo hạt, cuối thu đẩu đông nhổ cây con cho vào hố ớ dưới đất cho qua mùa đỏng. Qua mùa xuân lại trồng, đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mùa thu măm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ vể cắt bò rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào ưong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khò.

Trên thị trường người ta còn phân biệt ra quy dầu là rẻ chính và một bộ phận cổ rễ; quy ỉhản hay quy thoái là phần dưới của rẽ chính hoặc là rễ phụ lớn. Quy vĩ là rễ phụ nhò, Đông y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay tại Trung Quốc người ta cũng đơn giản bớt đi và phần lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta khòng phân biệt nữa. Toàn rễ cái rễ phụ dược gọi là toàn quy.

C. Thành phần hóa học

Trong đương quy có tinh dầu. Có tác giả đã xác định tỷ lộ tinh dầu là 0,2%, tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15°c, màu vàng sẫm, trong; tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%; thành phần chù yếu cùa tình dầu giổng tinh dầu cùa đương quy Nhật Bản (Dược học thông báo, 1954, ưang 432 và Thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, tr. 384).

Trong đương quy Nhật Bản Angelica acutiloba (Sieb. et Zucc). Kitagawa Ligusticum acutiỉobum (Sieb. et Zucc), người ta thấy có tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chù yếu là nbutylidenphtalit C]2H)20 2 và n-valerophenon Ocacboxy-axit CnH]4Or Ngoài ra còn có nbutylphtalit CuHh0 2, becgapten C)2H80 4, sesquitecpen, safrola và một ít vitamin BI2.

D. Tác dụng dược lý

Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một sô’ tác dụng chủ yếu.

1. Tác dụng trẽn tử cung và các cơ trơn.

Trên tử cung. Đương quy có 2 loại tác dung: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế. Theo Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khói (1924 Chinese Med.J. 38: 362) thì hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương quy (dùng nước đun sắc hoặc rượu nhẹ độ thấm kiệt), tiêm cho chó đă gây mê (tĩnh mạch) thì thấy đối với tử cung 10 con không có chửa có 37,5% hiện tượng co, đối với chó có chửa hoặc đẻ không lâu thì 100% hiện tượng co tử cung.

Đối với các cơ quan có cơ trơn khác như ruột, bàng quang cũng có hiện tượng đó, đồng thời huyết áp hạ thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sacaroza cao trong thuốc). Nếu như dùng tinh thể (không có tính chất bay hơi, không có đường và kicm tính) chiết từ đương quy ra để tiêm vào ũnh mạch thò thì cũng thấy sức co bóp của từ cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao; nếu dùng tinh thể nói trên pha với dung dịch Tyrốt thành 1/2.000.000, rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài; dung dịch pha loãng 1/100.000 cũng làm cho mẩu ruột cô lập của thỏ co bóp / V c CH —<ch2)3—ch3 ♦=”” hao=”” *=”” —h=”” 2o=”” Ữ=”” c=”” o=”” —(ch2=””>3—CH3 COOH 56 n-butyliden phtalit n-vaìerophenon-O-cacboxy-axit mạnh.

Các tác giả cho rằng tính chất kích thích này do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn. Theo Lưu Thiệu Quang, Trương Phất Sơ và Trương Diệu Đức (Trung Hoa y học tạp chí 21: 611; 1935) thì đã dùng tinh dầu cùa dương quy tiến hành 88 lần thí nghiệm trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện tháy đổí với tử cung cô lập của thỏ, chó và chuột bạch (có chửa hay không có chửa) với nồng độ 1/50 có tác dụng giãn nghỉ, nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn ưương lại khói phục lại, như vậy chứng tỏ tinh dầu đương quy không làm thương tôn nhiều đối với cơ của từ cung. Với nồng dò 1/25 thì sự co của tử cung lập tức đình chỉ; với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ.

Tác dụng trên của đương quy ngược lại với tác dụng cùa tuyến yên và cùa histamin, tức là sau khi tác dụng bằng atropin sunfat thì có thể xuất hiện, do đó cho rằng tác dụng của đương quy không do tác dụng trên hệ thống thần kinh mà do tác dụng trực tiếp ức chế trên cơ trơn của tử cung và do tác dụng trục tiếp trên cơ của tử cung này mà chữa bệnh thống kinh, so với atropin thì an toàn hơn.

Nhưng năm 1949 (Trung Hoa y học tạp chí, 35; 353) Trương Xương Thiệu cho rằng xem tính chất trực tiếp ức chế cơ trơn của tủ cung là đại diện cho cách tác dụng của đương quy chưa dược đúng đắn. Kinh nghiệm dùng đương quy trên lâm sàng cho biết đương quy có tác dụng làm dịu tử cung co quắp.

Theo báo cáo của Dương Đại Vọng, Triệu Túc Quân (1948 Trung Hoa y học tạp chí, 34: 457) đã dùng dương quy chữa cho 129 bệnh nhân thống kinh (kinh nguyệt đau đớn) tất cả đã dùng 257 lần thì thấy kết qùa tốt, không có triệu chứng nào không tốt, lại làm tăng sự phát dục của tử cung.

Các tác giả đề xuất ra 3 loại tác dụng cùa đương quy.

(1) Úc chế sự co của tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của từ cung, trực tiếp làm cho hành kinh không dau.

(2) Do cơ tử cung giãn nghỉ, huyết lưu thông mạnh, do đó có tác dụng cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, làm cho tù cung chóng bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (thấy kinh đau đớn).

(3) Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, làm giảm sung huyết vùng xương chậu do đỗ tham gia làm giảm đau trong lúc kình nguyệt.

Năm 1954 Ngỏ Bào Sam và những người cộng tác đã báo cáo dùng đương quy mua ở Thượng Hải chế thành nước sắụ, cồn thuốc, chiết bằng ète dầu hỏa, ête sunfuric, clorofoc, cồn nguyên chất và cồn 70″.

Với 8 loại chế phẩm đó thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và theo phương pháp trường diễn của Reynolds (1929) thì thấy cả 8 loại đều làm tăng tính tiết luật cùa từ cung cô lập thỏ, làm giảm trương lục (tonus); liều lớn thì hoàn toàn ức chế; nếu tiêm vào tĩnh mạch súc vật đă gây mẽ (mèo, chó, thỏ) thì thấy sự co của tử cung tại chỗ được tảng mạnh, đổng thời huyết áp hạ xuống; nếu tiêm tĩnh mạch những con thò theo dõi theo phương pháp Reynolds (mãn tính, trường diễn) thì thấy cổ tác dụng hưng phấn. Dùng nước sắc đương quy với liều 300, 150, 30, 15 mg trên lOg thể trọng tiêm vào màng bụng chuột nhắt và thuốc chiết bằng ète dầu hỏa với liều 200, 100, 50 mg trên mỗi con chuột tiêm dưới da chuột nhắt đều không thấy tác dụng của các nội tiết tố nữa.

Năm 1954(Trung Hoa y học tạp chí, 9; 670- 682), Lã Phú Hoa, Ngô Hy Đoan và Hồng Sơn Hải báo cáo đã dùng một loại đương quy (có lẽ là Ligusticum acutilobum) chế thành thuốc sắc, cất kéo hơi nước và chiết bằng ête thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và trên từ cung trường diễn, cũng đi đến kết quả gần như kết quả của Ngỏ Bảo Sam kể ưên và các tác giả dề xuất rằng đương quy có hai loại tác dụng hưng phấn và ức chế.

Chất có tác dụng ức chế có trong đương quy chủ yếu nằm trong phần bay hơi được, có độ sôi 189°-210°c ờ 5 mm thủy ngân, thành phần này trong quá trình sắc thuốc thông thường vẫn được áp dụng trong nhân dân thường không bị bay đi nhiều. Thành phần có tác dụng hưng phấn tan trong nước, trong rượu êtylic, không tan trong ète là chất không bay hơi.

Năm 1954, Chu Nhan ợ rung dược đích dược lý dữ ứng dụng) dã đề xuất rằng đương quy có hai tác dụng: Thành phần tan trong nước, không bay hơi, có tinh thể, có tác dụng hưng phán cơ tứ cung làm cho sự co bóp tăng mạnh; thành 57 phần bốc hơi có tác dụng ức chế cơ tử cung, làm cho tử cung giãn nghỉ, nếu muốn làm cho có tác dụng co bóp tử cung thì cần sắc thuốc có đương quy lâu để trừ bỏ bớt phần bay hơi; trái lại nếu muốn làm cho tử cung giãn nghỉ thì chỉ nên sắc rất chóng để bảo vệ phán bay hơi.

2. Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E.

Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. physiol. 16; 373) dùng thức ăn thiếu vitamin E nuối chuột trong 2-5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiêu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nêu thêm vào thức ăn 5-6% đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự, Nghê Chương Kỳ suy luận ràng nhân dân sờ dĩ dùng đương quy làm thuổc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.

3. Tác dụng trên trung khu thần kinh.

Theo sự nghiên cứu của một tác giả Nhật Bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động cùa đại não lúc dầu thì hưng phân trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thổ hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưổi da thỏ thì các hiện tượng trén không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rổi đến liệt tim.

4. Tác dụng trên huyết áp và hô hấp.

Theo Schmidt. Y Bác An và Trẩn Khắc Khôi (1924 Chinese Med. J. 38; 362) tinh dầu cùa đương qụy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao.

Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức (1935 Trung hoa y học tạp chí 21: 611) đã theo dõi tác dụng cùa tinh dầu đương quy trên thỏ, mèo, chó đối vối huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn, nhò tinh dầu tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau.

a) Liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.

b) Liều trung bình: Huyết áp hạ thấp nhìểu hơn, hô hấp khó khăn.

c) Liều lớn: Huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hỏ hấp ngừng lại. gây chết. Tác dụng làm hò hâp khó khăn đối với thỏ ít hơn so sánh với mèo và chó, cho nên có thể nói độ độc của đương quy đới với huyết áp hay hô hấp rất thấp.

5. Tác dụng trên cơ tim.

Theo Ngụy Liên Cơ (1950 sinh lý học háo 20 (2); 105-110-Trung văn) thì tác dụng trên tim của đương quy giống tác dụng của quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong ête êtylic.

6. Tác dụng kháng sinh.

Năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã báo cáo nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ và tụ cầu trùng.

Các sản khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Ý Dĩ
  2. Xuyên Khung
  3. Xích Thược
  4. Ích Mẫu

E. Công dụng và liều dùng

Theo đông y đương quy Đương quy

Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là dầu vị ưong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiêu dơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

Chủ yếu dùng chữa bệnh kinh nguyệt không đéu, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc (chia làm 2 lần uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10 ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7-14 ngày.

Còn làm thuốc bổ huyết chữa thiếu máu, chân tay đau nhức và lạnh. Đơn thuốc có dương quy dùng trong đông y Bài tứ vật (tứ vật thang) đương quy, thục địa (hay sinh địa), mỗi vị 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200 ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày, làm thuốc chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ờ rốn, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng.

Đối với phụ nữ sau khi đẻ lắm bệnh có khi người ta dùng bài tứ vật nói trên thêm hắc can khương, hắc đậu (đậu đen), trạch lan, ngưu tất, ích mẫu, bồ hoàng.

Bài dương quy kiện trung thang của Trương Trọng Cảnh dùng chữa bệnh phụ nữ sau khi đẻ thiếu máu, thuốc bổ huyết: Đương quy 7g, quế chi, sinh khương, đại táo mỗi vị 6g, thược dược 58 lOg, đường phèn 50g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lấn uống trong ngày.

Chữa cháy máu cam không ngừng: Đương quy sao khô tán nhỏ, nỗi ngày dùng 2-3 lần, môi iần dùng 4g. Dùng nước cháo mà chiêu thuốc.

Dưỡng não hoàn=vỉên dưỡng não. Dùng chữa mất ngù, nhức đầu, ngủ hay mê: Đương quy lOOg, viễn chí 40g, xương bồ 40g, táo nhân 60g, ngũ vị 60g, khời tử 80g, đởm tinh 40g, thiên trúc hoàng 40g, long cốt 40g, ích trí nhân 60g, hổ phách 40g, nhục thung dung 80g, bá tử nhân 60g, chu sa 40g, hồ dào nhục 80g. Tất cả tán thành bột thêm mật ong vào viên thành vièn mỗi viên nặng chừng 4g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên. Uống luôn 15 ngày (bài thuốc kinh nghiệm Trung Quốc).

Đã áp dụng thấy kết qua tốt ở bệnh viện Bạch Mai. Mất ngủ khỏi 85%, váng đầu khỏi 78,65%, ngù mê đạt 77,22%, đau đầu đạt 79,59%.

Chú thích:

Trong đông y phân biệt quy đầu, quy thân, quy vĩ có tác dụng khác nhau.

Gần đây người ta chứng minh tỉ lệ tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của rễ có khác nhau. Vậy kinh nghiệm người xưa không phải hoàn toàn vô lý chăng?

Phần trên đã giới thiệu, ở đây chỉ nói quan niệm của một số thầy thuốc xưa: Theo Hoàng Cung Tú thì quy đầu có tác dụng cầm máu đi lên, quy thân thì nuôi huyết ở trung bộ, quy vĩ thì phá huyết đi xuống dưới. Toàn quy thì hoạt huyết. Quy vị cay thì hay tán, người nào hư, hỏa thịnh nên kiêng: vị ngọt thì ủng tắc, người nào tỳ vị hư hàn chớ dùng, thể nhuận tinh hoạt, người nào tiết tả nên kiêng.

Một tác giả cổ khác là Chương Sơn Lôi nói:

1. Quy thân chủ thủ có công bồi dưỡng, quy vĩ chù thông có công trục ứ, quy đẩu có tính đi lên trên chữa những chứng tiện huyết, niệu huyết (tiểu tiện ra huyết) rất hay nhưng chữa thổ huyết, nục huyết, (chảy máu cam) mà dùng thì có khác gì chắp cánh cho hổ, cho nên làm thuốc phải sành chớ ngộ nhận 2 chữ chỉ huyết (cầm máu) mà hại người (trích trong bản thảo cương mục, Lý Thời Trân, thế kỷ thứ 16).

2. Tên khoa học của đương quy mới được các nhà dược học và thực vật học Trung Quốc sác định lại gần đây. Theo tài liệu cũ, tên khoa học cùa đương quy rất phức tạp như ở huyện Nga My tinh Tứ Xuyên dùng vị tiền hồ (Peucedanum decursivum Maxim.) làm đương quy, có nơi lại dùng rễ của cày Angelica miqueliana Maxim, và cây Angelica grosserrata Maxim,v.v…

Thực tế đương quy mà ta nhập có thể do các nguồn cây khác nhau. Ngay tại Việt Nam, ở Lạng Sơn ta vẫn thu mua vị tiền hồ với tên nam đương quy để dùng và bán sang Trung Quốc. Cần chú ý nghiên cứu thêm.</ch2)3—ch3>

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Đương quy”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin