Enter your keyword

Hồ đào

210,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 2 votes

Hồ đào hay còn gọi là hạnh đào, hoàng đào, óc chó, cát tuế tử. phan la tư.

Tên khoa học Juglans regia L. Thuộc họ Hổ đào Juglandaceae.

Cây hồ đào cho ta những vị thuốc sau đây:

1. Hồ đào nhân (Semen Juglandis) là nhàn phơi hay sấy khô của quả hổ đào chín.

2. Lá hồ đào hay hồ dào diệp (Folium Juglandis) là lá cây hồ đào phơi khô.

3. Thanh long y (Pericarpium Juglandis) còn có tên hổ đào xác là vỏ quả hồ đào (phán thịt) phơi hay sấy khô.

4. Phàn tám mộc (Diaphragma Juglandis Fructus) là màng ngăn cách trong nhân cùa hạt hồ đào phơi hay sấy khô.

Tên hồ đào vì cây vốn gốc ở dân tộc Khương Hồ (tên cổ của Ấn Độ một nước vùng Tây Nam châu Á). Chương Khiên nhà Hán Trung Quốc đi sứ sang Tây Vực đem về trồng gọi là hồ đào; đào vốn ờ xứ của vùng dân tộc Hồ (An Đồ).

A. Mô tả cây

Cây óc chó hay hổ đào là một cây to, cao tới 20m, sống lâu năm. Lá kép lông chim, không có lá kèm, thường 7-9 lá chét, mép nguyên không cuống hình trứng thuôn, khi vò có một mùi hãng đặc biệt. Hoa đơn tính, cùng gốc, kèm theo lá bắc sớm rụng.

Hoa đực mọc tụ thành hình đuôi sóc rủ xuống, mỗi hoa ở một kẽ lá bấc, kèm theo có 2 lá bắc con. Nhị 30-40, có chỉ nhị ngấn, đỉnh có bao phấn 2 ngăn, quay vào trong. Hoa cái mọc đơn độc, thua, bao hoa gổm 4-6 vẩy, báu hạ, vòi nhụy ngắn. Bầu 1 ngãn, có 1 tiểu noãn mọc thẳng.

Có 4 vách giả chia bầu thành 4 ngăn giả. Quả hạch, có vỏ mẫm, đường kính chừng 3-4cm. Nhân nguyên ờ phía trên, chia thành 4 thùy ở phía dưới, nhiều rãnh nhăn nheo, trông như óc, do đó có tên quà óc chó. Mùa hoa: mùa hạ, quả chín vào cấc tháng 9- 10.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Kim anh
  2. Hoàng kỳ
  3. Phá cố chỉ
  4. Thỏ ty tử

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hồ đào hình như là một loài mới được di thực vào nước ta, thường chỉ thấy trồng ở một SỐ tỉnh biên giới như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Tuy nhiên sô cây chưa nhiều, chì mới thấy chừng 1-2 nghìn cây. Mọc hoang ở những nước vùng đông nam châu Âu tới tận Nhật Bản. Hiện được trổng ờ những nưóc ôn đới châu Âu, tại Trung Quốc (nhiều nhất tại các tỉnh miền Bắc). Cây hồ đào Sống lâu năm, thường từ 15 năm trờ lên, cây hổ đào mới cho hiệu suất cao nhất. Muốn hái lá, thường hái suốt mùa hạ, tốt nhất vào các tháng 6-7. Chọn những lá xanh, tốt, thường chỉ hái lá chét, hoặc hái toàn lá sau đó lọc lấy lá chét, phơi thành lớp mỏng cho đến khố để khỏi phải đảo luôn. Không dùng những lá rụng, hoặc lá hái vào mùa thu.

Thường người ta hay dùng lá tươi làm thuốc vì hoạt chất còn nguyên vẹn, giã ép lấy nước. Lá phơi khô bảo quản cẩn thận có màu lục, mùi thơm, vị đắng, chát. Nếu dùng nhân thì đợi các tháng 9-10 khi quả chín hái về, bóc lấy vỏ ngoài, phơi khô, gọi là thanh long y.

Hạch gồm nhân và vỏ cứng phơi khô gọi là hồ đào. Lấy quả hạch, đập lấy nhân phơi khô gọi là hổ đào nhân và phẩn vách gọi là phân tâm mộc.

C. Thành phần hóa học

Hồ đào nhân chứa chờng 40-50% chất béo. Muốn ép dầu hổ đào, cần phơi hạt cho khô và chờ ít nhất 3-4 tháng, vì nếu ép tươi dầu sẽ đục, khó lọc trong. Thành phần của dẩu gồm 7%axit béo đặc (axit myristic và axít lauric), các axit béo lỏng gổm có 80% axit linolic, 13% axit linolenic và isolinolenic, 7% axit oleic. Nhưng một số tác giả khác lại cho rằng trong dầu hồ đào có 78- 83% axit linolic, 14-15% axit oleic, và 4% linolenic. Dầu hổ đào có tỷ trọng 0,924-0,925 ở nhiệt độ 15-18°c thì đặc lại. Ngoài chất béo ra, trong nhân dân hồ đào còn có 15,5% protein, 10,4% hydrat cacbon, 1,5% tro (magìê, mangan, canxi photphát, sất, vitamin A, B2, C và E).

Thanh long y được bán trên thị trường châu Âu với tên brou de noix. Trong thanh long y có axit xitrìc, axit malic, juglin, hydrojuglon, axit ellagic, emunsin, peroxydaza và tro. Lá hồ đào chứa một ít tinh dầu, chừng 5% chất dường inozitol, một tanin pyrogalìc, axit galic và axit elagic. Trong lá hồ đào còn có chất juglon và hydrojuglon, một chất hắc và đắng là juglandin, một tinh dầu, chat nhựa và pectin. Juglon và hydroxy-5 naphtoquinon-1,4 hydrojuglon là chắt do khử oxy của juglon mà có. Hydrojuglon ỏ dưới 2 dạng tổtôme: ahydrojuglon (triphenolìc) và P-hydrojuglon (dixetonic và monophenolic).

Tỳ lệ juglon giảm ở các lá già. Do đó cần hái trước khi lá già. Juglon cho với đồng axetat những tinh thể hình kim dài màu đỏ nâu. Khi đun nóng các vi phẫu lá hồ đào, chất juglon thăng hoa cho tinh thể màu vàng tươi dài 300(i. Nước brôm cũng cho những tinh thể cùng kích thước. Chất juglon gần như khỏng tan trong nước, 2 chất hydro juglon cũng chỉ tan một phần trong nước, chỉ riêng chất (3-hyđroxy juglon tan trong clorofoc, còn chất a-hydroxyjuglon chỉ chủ yếu tan trong cồn.

Chất a-hydroxyjuglon ra khí trời sẽ oxy hóa để cho juglon. Trong cùng một điều kiện, chất 3-hydrojuglon không bị oxy hóa. Muốn cho hydrojuglon có thể chuyển thành juglon, cần đồng phân hóa nó thành dạng a bằng cách đun sôi trong cồn clohydric. Người ta có thể chế được juglon dưới dạng tinh thể màu da cam. Nó tan trong dung dịch kiềm để cho một dung dịch màu tím.

D. Công dụng và liều dùng

Hổ đào được dùng trong cả đông y và tây y. Táy y cho rằng tác dụng của hồ đào là do chất tanin, chất juglon có tính chất sát trùng là do có chất phenol, chất juglon còn có tác dụng hóa sừng các tổ chức, được dùng chữa những bệnh ngoài da.

Theo tài liệu cổ, hồ đào nhân có vị ngọt, tính ôn, không độc, vào 2 kinh phế, thận có tác dụng bổ gan, thận, bển lưng, gối, cố thân, sáp tinh, liêm phế, chữa ho, trừ đờm, làm thuốc bổ, tu dưỡng, ăn vào béo người, nhuận da, đen tóc, lợi tiểu tiện, chữa 5 chứng tri.

Nhưng có tác giả then cổ (Hoàng Cung Tú, đời nhà Thanh Trung Quốc) cho rằng ăn nhiều nhân hồ đào thì có thể rụng lông mi, lông mày, người nào phế có nhiệt đờm và hỏa ở mệnh môn thì chớ dùng. Phàm không phải chứng hư hàn cấm dùng.

Tây y dùng lá hồ đào làm thuốc làm se da, sát trùng, bổ và lọc máu. Người ta pha thành thuốc pha như pha trà: 20g trong 1 lít nước để uống trong hay sắc 50% để súc miệng, thụt âm đạo, chữa khí hư. Nếu không có lá có thể dùng vỏ quả (thanh long y). Có tác giả (Reynaud, 1932) đã cho rằng thuốc pha lá hổ đào có tác dụng hạ glucoza huyết. Bò ăn lá hồ đào sẽ mất sữa. Chất juglon được dùng chữa bệnh ngoài da như chốc lở, bệnh vẩy nến, eczêma, ngứa. Dùng dưới hình thức pha 0,50g juglon trong 100ml clorofoc trộn với vazorlin. Hạt hồ đào thường dùng ép dầu ăn, khô dầu dùng cho trâu bò hay lợn ăn, nhưng nếu khô dầu để lâu thường bị khét, thịt bò lợn ăn phải sẽ có mùi khó chịu do đó khồ dầu đổ lâu chỉ dùng để bón ruộng thôi. Gỗ cây hồ đào hay được người chây Âu dùng làm báng súng và trong nghề mộc vì gỗ chắc, thớ mịn. Đ ồ n g _v coi hổ đào bổ khí, nuôi huyết, nhuận táo, hóa đờm, ôn phế, nhuận tràng, lợi tam tiểu, ‘ ích mệnh môn, chữa hư hàn, ho suyễn (Lý Thời Trân). Thưòng chỉ hay dùng nhân với liều dùng l0-20g dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên. Đơn thuốc trong nhân đàn có vị hồ đào T h a n h n g a h o à n , làm thuốc bổ, chữa đau lưng, mòi gối (H ò a h à n c ụ c phương)-. Hồ đào nhân 30g nhân, bổ cốt chi lOOg, đỗ trọng lOOg. Tất cả giã nhỏ chế thành viên, mỗi ngày uổng 3 lần, mỗi lần 5g.

Đ ơ n th u ố c c h ữ a n g ư ờ i g ià y ế u , h o , thở , ngủ k h ô n g được: HỔ đào bò vỏ, hạnh nhân bỏ vỏ và đẩu nhọn, sinh khương mỗi vị 40g, giã nát, dùng mật viên to bằng hạt ngô. Buổi tối trước khi ngủ ngậm 1- 2 viên, dùng nước gừng mà ngậm chung. C h ữ a tr ẻ co n c h ố c đ ầ u : Hồ đào (cả vỏ) thiêu tồn tính để nguội thêm nửa phẩn kinh phán, trộn đều, tán nhỏ, hòa với dầu thầu dầu bôi lên chỗ chốc đẩu đã rửa sạch bằng nước trấu không hay nước bạch dồng nữ. C h ữ a k h í hư: Lá hồ đào tươi, sao vàng, sắc với nước, mỗi lít nước cho 50g lấ tươi. Dùng thụt vào âm hộ.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Hồ đào”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin