Enter your keyword

Hoắc hương

310,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 2 vote[s]

Hoắc hương hay còn gọi là quảng hoắc hương, thổ hoắc hương.

Tên khoa học Pogosìemon cablin (Blanco) Benth.

Thuộc họ Hoa môi Latniaceae (Labiatae).

Hoắc hương còn gọi là quảng hoắc hương (Herba Pogostemi hay Herba Patchouli) là cành và lá phơi hay sấy khô hoặc toàn cây (trừ re) phơi hay sấy khò của củy hoắc hương Pogostemon cablin (Blanco) Bcnth.

Thổ hoắc hương hay xuyên hoắc hương (Herba Agastachis rugosae) là toàn cây (trừ rễ) phơi khồ của cây hoác hương hay thô hoắc hươngAgastache rugoxa (Fisch. et Mey) o. Kuntze cùng họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).

Chú thích về tên:

Lá đậu tiếng Trung Quốc có nơi gọi là hoắc. Vì lá cày này giống lá cày đậu lai có mùi thơm cho lên gọi là hoắc hương.

A. Mô tả cây

Hoắc hương là một cây cỏ sống lâu năm, thân có phân nhánh, cao chừng 30cm đến 60cm. Trên thân có lông.

Lá vò có mùi thơm. Lá có cuống ngắn, phiến lá hình trứng hay hình thuỗn, dài chừng 5-10cm, rộng 2,5-7cm, mép có răng cưa to, mặt dưới nhiều lòng hơn.

Hoa màu hổng tím nhạt mọc thành bông ờ kẽ lá hay đầu cành, Tuy nhiên cây trống ờ Việt Nam hầu như không thấy có hoa và kết quả. Ngoài loài hoắc hương ké trên, người ta còn dùng loài hoắc hương Agastache rugosa (Fisch. et Mey.) o. Kuntze, cùng họ.

Đó là một loại cỏ sống hàng nãm, cao chừng 40-100cm. Lá hình trứng dài 2-8cm, rộng l-5cm, đầu lá nhọn phía cuống hơi hình tim, cuống dài l-4cm, mép có răng cưa thô, to. Hoa mọc thành vòng quanh thán ở đầu cành hay kẽ lá.

Cánh hoa màu tím hay màu trắng. Mùa hoa tháng 6-7; mùa quả tháng 10-11. Củy này cũng có mọc ở nước ta nhung ít phổ biến hơn loài trên.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Hậu phác
  2. Địa liền
  3. Mạch nha
  4. Sơn tra

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hoắc hương được trổng nhiều nơi ở mién Bấc nước ta, chủ yếu lấy lá và cành làm thuốc. Nhiều nhẵt tại vùng Kim Sơn (Hà Nam), Hưng Yên.

Tại Hà Nội, vườn thuốc Vãn Điển có trổng thử. Thường trồng bằng giâm cành, vì cây không có hoa quả. Hiện việc nghiên cứu trổng chưa có kinh nghiệm chắc chắn.

Tại các nước khác tại vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi, hoắc hương được trồng rất qui mô để láy lá cất tinh dầu.

Những nước sản xuất hoắc hương nhiều nhất hiện nay là Ân Độ, Malaixia, Philippin, Mangat, Inđônêxya. Hàng nãm tại Malaixia thu hoạch chừng 500 tán lá khô hoắc hương để cất tinh dầu, chưa kể còn sản xuất chừng 700 đến 1.000 tấn lá để xuất cảng nữa.

Tại Mangat, vào năm 1925 đã sản xuất chừng hơn 5 tíứi lá khô để cất tinh dầu, chưa kể số lá dùng để cất tinh dầu tiôu thụ trong nội địa. Hiệu xuất thu hoạch mỗi hecta hàng năm chừng 500kg lá khô.

C . Thành phần hoá học

Trong lá hoắc hương khô có chứa 0,5-0,6% tinh dầu. Thành phân chủ yếu cùa tinh dầu hoắc hương là cồn patchouli C1$H,60 , còn gọi là long não patchouli, chất andehyt xinamic, andehyt benzoic, eugenola, cađinen C|5HỈ4, sesquitecpen và azulen.

Long não patchouli là một rượu bậc 3, kết tinh dưới dạng tinh thổ hình lục lãng, có khi kết tinh ngay trong tinh dầu.

Trong tinh dầu cất từ lá cây mọc ờ Hà Nội (Nguyên Xuân Dũng và cộng sự, J. Ess. Oil Res. 2,99-100, March-April, 1989) đã thây cồn patchouli chiếm 32-38%. Ngoài ra còn 10 thành phần khác dược phát hiện trong dó có oc-bunesine và cxguaiene. Có thể cất tinh dáu hoắc hương bằng lá tươi, nhưng tỷ lệ thấp, thường tinh dầu chỉ xuất hiện trong lá khô hoặc lá đc thành đống cho hơi lên men và khỏ dần. Hoạt chất khác chưa rõ.

D. Công dụng và liều dùng

Hiện nay hoắc hương có nhiều công dụng.

1. Trong y học nhân dân, hoắc hương là một vị thuốc làm mạnh dạ dày, giúp sự tiêu hoá và ruột, dùng trong những trường hợp ăn không ngon, sôi bụng đau bụng đi ngoài, hôi miệng. Còn dùng làm thuốc chữa cảm mạo, nhức đầu, mình mẩy đau đớn, ưiệu chứng cảm cúm. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, dùng riêng hay phối hợp với vị thuốc khác. J

2. Trong kỹ nghệ nước hoa, hoắc hương là một nguyên liệu quí vì tinh dầu hoắc hương (oil of patchouli) là một tinh dáu thơm và đinh hương cao cấp.

Đơn thuốc có hoắc hương

1. Hoắc hương chính khí ha\ kiện tì chi tá tán: Hoắc hương 15g, tỏ diệp (lá tía tô)10g, thương truật 8g, cam thảo 3g, ưần bì 5g, đại táo 4 quà, hậu phác 3g, phục linh 6g. Tất cả lán thành bột chia thành gói 8-10g. Chữa ăn uống không tiêu, đau bụng di ngoài. Người lớn ngày uống 2-5 gói (tối đa), cách một giờ uống một gói. Trẻ con dưới một tuổi không nên uống. Trẻ con từ 2-3 tuổi mỗi lân dùng 1/3 gói, 8-10 tuổi mỗi lần l/2gói.

2. Đơn thuốc chữa ăn uống không tiêu, hay sỏi bụng: Hoắc hương 12g, thạch xương bổ 12g, hoa cây đại 12g, vỏ bưởi dào đốt cháy 6g. Tất cả tán nhỏ. Trước bừa ãn 20 phút uống với nước nóng, mỗi lần 2g. Ngày uống 3 lần.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Hoắc hương”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin