Enter your keyword

Lạc tiên

230,000

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

Lạc tiên còn gọi là cây lạc, cây nhãn lồng (Nam Bộ), lổng dèn, hồng tiên, long châu quả, mắc mát (Đà Lạt).

Tên khoa học Passiýĩora foetida L.

Thuộc họ Lạc tiên Passifloraceae.

A. Mô tả cây

Cây lạc tiên là một loại dây mọc leo, thân mềm, trên có rất nhiêu lông mềm. Lá mềm, mọc so le, hình tim, dài 6-10cm, rộng 5-8cm, mép lượn sóng và xẻ hơi sâu thành 3 thuỳ, đáy lá hình tim, mép lá có lông mịn, cuống lá dài 7-8cm.

Đẩu tua cuống thành lo xo. Hoa đơn độc, 5 cánh màu tráng hay hơi tím nhạt, đường kính 5,5cm lá đài màu trắng phía dưới có gân xanh, dưới lá đài có 3 gân chính với những gân phụ trông như lá mà không có phiến chỉ có gân lá không thôi.

Một dĩa có 2 táng tua, mạt tua trên có màu tím trong vàng, trong cùng có lông mịn. Trụ cao có đầu tim đỏ, 5 nhi có bao phấn màu vàng gục xuổựg duới-

Quả hình trứng dài 2-3cm. Mùa hoa 4- 5, mùa quả 5-7.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. La hán quả
  2. Tri mẫu
  3. Bồ kết
  4. Viễn chí

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang ở khắp nơi tại nước ta. Thường trẻ con vẫn hái quả ãn. Trước đây hầu như nhân dân ta không dùng cày này làm thuốc.

Từ năm 1940, một dược sĩ Việt Nam từ Pháp vể thấy cây này hơi giổng Passiflora ờ bên Pháp mà tại Pháp người ta dùng cây đó làm thuốc an thán nôn dã dùng cầy lạc tiên của ta chế thành thuốc làm thuốc an thần.

Từ đó ta quen dùng, chứ chưa ai kiểm tra theo dõi tác dụng đến đâu.

Hái toàn cây trừ rễ, dùng tươi hay phơi khô mà chế thuốc sắc hay pha rượu thuốc. Không chế biến gì đăc biệt. Chưa ai đạt ván đề trổng

C. Thành phần hoá học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu ở nước ta. Theo Quesland ị Agr. 34-1930:605 ) quả chín chứa axit xyanhydric. Tuy nhiên trẻ con ăn không thấy có triệu chứng bị ngộ độc.

D. Tác dụng duợc lý

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

E. Công dụng và liều dùng

Các xí nghiệp và bệnh viện ta thường dùng chế thành thuốc nước ngọt có pha cồn làm thuốc an thần, chữa mất ngủ, tim hối hộp.

Nhưng thường phối hợp với nhiều vị thuốc khác như tim sen (liên tãm), lá dâu, đôi khi thêm cả bromua cho nên khó đánh giá tác dụng, Có người nói chỉ dùng cây này sắc uống cũng thấy tác dụng ngủ và an thấn.

Cần kiểm tra lại. Ngày dùng 6 đến 16g cây khô dưới dạng thuớc sắc hay pha rượu. Đơn thuốc có lạc tién Thuốc chữa hổi hộp, bốn chồn, mất ngủ: Cao lạc tiên: Cây lạc tiẽn 50g, lá vông 30g, lá dâu tằm lOg, liên tâm 2,2g, đường 90g, nước vừa đủ 100ml, axit benzoic để bảo quản và cồn vừa đủ để hoà tan axit benzoic.

Ngày dùng 2-4 thìa to, trẻ em 1-2 thìa cà phê. Uống trước khi đi ngủ làm thuốc an thẩn, gãy ngủ, chữa hồi hộp bổn chồn.

Chú thích:

Tại các nước châu Âu, người ta dùng 2 loại lạc tiên khác tên là cây lạc tiên Passiflora coeruỉea L. có phiến lá chia thành 5 thuỳ cát sâu, hoa mọc đơn độc màu xanh, quả màu lục, khi chín chuyển sang màu vàng cam.

Cây thứ hai là lạc tiên Passiflora incarnata L. có phiến lá chia thành 3 thuỳ cắt sâu, thuỳ hình bầu dục, mép có răng cưa nhỏ: Cây này được Dược điển Pháp chính thức cõng nhận làm thuốc. Trước kháng chiến, một vài nhà ở Hà Nội có trồng loại này.

Tại Đà Lạt một số gia đình trống cây này vớị tên Mắc mát làm cành và ăn quả. Chưa thấy dùng làm thuốc. Hoạt chất của 2 cây .cũng chưa rõ ràng.

Chì biết trong cây Passiflora coerulea, Guignard (1906) đã thấy một hợp chất sinh axit xyanhydric với tỷ lệ 0,50g axit xyanhydric trong lkg lá hay rẽ; trong hoa tỷ lệ ít hơn, Dekker (1906) cũng thấy tỷ lệ axit prussic.

Năm 1942, Plouvier thấy tỳ lộ axit xyanhydric trong lá tươi thay đổi từ 0,035 đến 0,076g. Ngoài ra, Plouvier còn phát hiện các diastaza, sucraza, amylaza, amygdalaza. p glucozidaza và một tỷ lệ canxi cao.

Trong cây Passiflora incarnata, nhập từ Angiê (Bắc châu Phi) Plouvier không phát hiện thấy axit xyanhydrìc mà chỉ thấy các gluxit (0,64g) và những heterozit khồng sinh axit xyanhydric. Nhưng nhiẻu tác giả khác lại thấy có heterozit sinh axit xyanhydroc.

Năm 1940, Ruggy và Srnith tìm thấy một chất tan trong rượu có công thức C]6H22OgN, có tấc dụng dược lý. Cây Passiflora coerulea được coi là một vị thuốc rất công hiệu làm dịu thần kinh, dùng dưới dạng cồn thuốc tươi [30(XX) đến 50(L) giọt một ngày)] hay dạng cao lỏng (1 đến 3g một ngày).

Cây Passiflora coerulea được coi là một vị thuốc an thần, chống co thắt, chữa những trường hợp hồi hộp. mất ngủ, dộng kinh, suy nhược thần kinh, H. Leclerc (Pháp) còn cho rằng có tác dụng hạ huyết áp, giảm co bóp mạnh của cơ trơn ruột và tử cung.

Dùng dưới dạng cồn thuốc tươi chế từ cây hái vào lúc dang ra hoa (30 đến 50 giọt một ngày) cao lỏng (l-5g) hay cồn thuốc (2-5g một ngày).

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Lạc tiên”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin