Enter your keyword

Mộc hương

420,000

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

Trên thị trường có nhiều loại mộc hương, nhưng sau đày là 2 vị chính:

1. Quảng mộc hương còn gọi là ván mộc hương (Radix Saussureae ỉappae) là rễ phơi hay sây khổ của cây vần mộc hương (Saussurea lappa Clarke) thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

2. Thổ mộc hương còn gọi là hoàng hoa thái (Radix Helenỉi) là rễ phơi hay sây khô của cáy thổ mộc hương (Inula heìenium L.) cũng thuộc họ Cúc Asteraceae (Composúac).

Ngoài ra còn một số cây khác cũng cho vị mộc hương cùng thuộc họ Cúc như vị xuyên mộc hương mà có tác giả xác định là Inula racemosa Hook. f., nhưng có tác giả lại xác đmh là Jurinea aff. snuliei Franch.

Ta đã di thực được 2 loài quảng mộc hương và thổ mộc hương. Hiện đang phát triển.

A. Mô tả cây

Cây quảng mộc hương hay ván mộc hương là một cây sống lâu năm, rễ to mẫm, đường kính có thể đạt tới hơn 5cm, vỏ ngoài màu nâu nhạt.

Phía gốc có lá hình 3 cạnh tròn, dài 12- 30cm, rộng 6-15cm, cuống dài 20-30cm có dìa, mép lá nguyên và hơi lượn sóng, hai mặt đểu có lông, mật dưới nhiều hơn.

Trên thân cũng có lá hình 3 cạnh, nhưng càng lên trên kích thước lá càng nhỏ dần, mép có răng cưa, cuống lá càng lên cao càng ngắn lại, phía trên cùng lá gần như không cuống hay có khi như òm lấy thân cây. Hoa hình đầu, màu lam tím.

Quả bế, hơi dẹt và cong queo, màu nâu nhạt, có những đốm màu tím. Mùa hoa vào các tháng 7-9, mùa quả vào các tháng 8-10. Cây thổ mộc hương cũng là một cây sống lâu năm, cao 0,50-l,50m. Phía gốc có iá to, dài tới 40cm, trốn thân có lá mọc so le nhỏ hơn, dài 10-30cm, phía cuống có hai tai ôm lấy thân, mép có răng cưa khổng đểu. Cụm hoa hình dầu, hoa màu vàng.

Quả bế, dài 4mm, trên có vân dọc.

Các vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Sa nhân
  2. Ích Trí Nhân
  3. Hoàng Đằng
  4. Hoàng Liên

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Từ trước đến nay, ta vẫn phải nhập mộc hương của Trung Quốc, trong khi Trung Quốc cũng phài nhập vị quáng mộc hương của nước khác.

VỊ này nguồn gốc ở Ân Độ, sau mới di thực và được trồng ở Vân Nam, do đó có tên vân mộc hương (mộc hương của Vân Nam).

Thổ mộc hương – ỉnula helenium mộc hương do nhập từ Ân Độ vào tỉnh Quảng Đông, rồi từ đó ưuyền đi toàn Trung Quốc.

Vị thổ mộc hương vốn được trồng từ lâu ờ Hà Bắc, Tứ Xuyên, Triết Giang và một số tinh khác của Trung Quốc, ở nước ta, việc di thực cả hai loại mộc hương mới bắt đầu thành công, đang được đưa trồng rộng rãi. Sau khi trồng 2 nảm hay 3 năm bắt đáu thu hoạch.

Đào rễ vào tháng 10 cho đến tháng 1 nảm sau. Rễ đào về, cắt bỏ mẩu thân, rừa sạch đất cát, phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hóa học

Trong vân mộc hương hay quảng mộc hương có chừng 1-2,8% tinh dầu, 6% chất nhựa sausurìn (ancaloit) và chừng 18% chất inulin.

Thành phần chủ yếu trong tinh dầu là aplotaxen C]7H,g và p costen CI:.HJ4, chất costus lacton C 15H20O2, chất dihydrocostus lacton C15H220 2, axit đặc biệt của vân mộc hương (costus axit) C15H22Oh, rượu costola C)5H240, một ít camphen và phelandren.

Trong thổ mộc hương có tới 40% inulin, do đó tên khoa học của nó là Inula heỉenium. Tuy nhiên tỷ lệ inulin thay đổi theo mùa. Tỷ lệ inulin cao nhất vào mùa thu.

Nếu ta cất hơi nước các chất bay hơi của thổ mộc hương, ta sẽ được một chất sánh, gốm một hỗn hợp anantol (một chất tecpenic) C10H|ỗO, chất helenin hay long não mộc hương (camphre d’aunee). Helenin là một lactonisoalantìc.

Nếu ép chất sánh đó vào giữa 2 tờ giấy thấm, chất alantol bị hút đi. còn lại chất helenin thô. Có thể tinh chế helenin bằng kết tinh trong cồn loãng. Helenin tinh chế có tinh thể không màu, mùi vị nhẹ, tan trong nước, dễ tan hơn trong rượu, ête và dầu.

Đồng phân cùa helenin có tinh thể và chảy ờ 112°.

D. Công dụng và liều dùng

Theo’ tài liệu cổ mộc hương vị cay, đắng tính ôn, vào 3 kinh phế, can và tỳ.

Có tác dụng kiện tỳ hòa vị, điều khí chỉ thống, an thai, chữa ngực bụng đầy, đau, tả lỵ, nôn mửa, lỵ cấp hậu trọng.

Vân mộc hương chỉ mới thấy dùng ưong đông y làm thuốc giúp sự tiêu hóa, bổ dạ dày, mạnh tim, trừ đờm, lợi tiểu, đặc biệt hay dùng trong trường hợp hơi đầy lên ngực, hay ợ.

Còn có tác dụng chữa đau bụng đi lỵ và cho vào quần áo để phòng nhậy khỏi cắn.

Thổ mộc hương được dùng trong cả đông y và tây y (tày y dùng với tên Racine d ’aunee) làm thuốc giúp sự tiêu hóa, ăn ngon cơm, thông tiểu, chữa ho, bạch đới, thiếu máu.

Đối với người lao, thổ mộc hương làm giảm ho, đỡ đau ngực, ãn ngon hơn.

Cũng có tác dụng đới vói ho gà, trẻ con đi ỉa chảy.

Ngoài ra theo sự nghiên cứu của Chabrol và Charonnat (1935) thì thổ mộc hương và hoạt chất của nó là helenin có tác dụng kích thích tiết mật trực tiếp và rất mạnh, dùng trong những trường hợp kém gan, sung huyết gan, vàng da. Liều dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.

Đơn thuốc có mộc hương

Hương liền hoàn dùng chữa đau bụng, đi lỵ: Thổ mộc hương, hoàng liên, hai vị bằng nhau, tán thành bột, chế thành viên bằng hạt tiêu. Ngày uống 3g, chia làm nhiều lần uống.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Mộc hương”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin