Enter your keyword

Ngũ vị tử

250,000

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

VỊ thuốc có đủ năm vị: Ngọt, chua, cay, đắng và mặn do đó đặt tên.

Trên thị trường, người ta phán biệt ra hai loại ngũ vị tử:

1. Bắc ngũ vị tử-còn gọi là ngũ vị tử, liêu ngũ vị, sơn hoa tiêu (Hác Long Giang) (Fructus Sechizandrae) là quả chín phơi hay sấy khô của cày bắc ngũ vị tử (Schiĩơndra sinensis Baill.) thuộc họ Ngũ vị Schizandraceae.

2. Nam ngũ vị tử-Fructus Kadsurae là quả chín phơi hay sấy khô của cây nam ngũ vị tử hay cây nắm cơm Kadsura japonica L. cùng họ Ngũ vị Schizandraceae.

Tuy gọi là nam ngũ vị tử nhưng là nam đối với Trung Quốc. Cả hai vị ngũ vị tử hiện ta vẫn còn phải nhập.

Tuy ở Việt Nam ta cũng có một loài Kadsura coccinea A. c Sm. những chưa thấy được khai thác.

A. Mô tả cây

Cây bẳc ngũ vị tử-Schizandra sinensis Baill. là một loại dày leo to, có thể mọc dài tới 8m, vỏ cành màu xám nâu với kẽ sần nổi rõ, cành nhỏ hơi có cạnh. Lá mọc so le, cuống lá nhỏ, dài l,5-3cm, phiến lá hình trứng rộng, dài 5-llcm, rộng 3-7cm, mép có răng cưa nhỏ, mặt trên sẫm hơn, gân lá non thường có lông ngán.

Hoa đơn tính, khác gốc, cánh hoa màu vàng trắng nhạt, có mùi thơm, cánh hoa 6-9, nhị 5, quả mọng hình cầu, đường kính 5-7mm, khi chín có màu đỏ sẫm, trong chứa 1 đến 2 hạt. Tại Trung Quốc mùa hoa 5-7, mùa quả 8-9 (Hình 665). Cây nam ngũ vị tử theo tài liệu (Trung dược chí, tập 2-1959) thì cũng là một loài Schizandra sphenanthera Rehd. et Wìls. cùng họ, hình thái gần giống cây bắc ngũ vị tử nhưng khác nhau ở chỗ hoa bắc ngủ vị tử chỉ có 5 nhị còn cây nam ngũ vị tử có tới 10-15 nhị.

Tuy nhiên theo nhiều tài liệu trước th) nam ngũ vị tử được khai thác ở những loài’ Kadsura japonica L. (Trung Quốc dược dụng thực vật đồ giám-1960), Kadsura longepeduncuỉata Fin. et Gagnep. (Quàng Châu thực vật chí-1956) hoặc Kadsura japonica Dun. (Thực vật học dại từ điển-Trung Quốc) (Hình 666, Hm 29,2).

Ở đây chúng tối chỉ mô tả một loài Kadsura có ở nước ta là Kadsura coccinea A. c. Sum. (còn có tên khác là Kadsura sinensis Hance hay ‘ Schizandra hanceana Baill.): Đây là một loài dây ‘deo với cành phân nhiều nhánh, gẩy, trên mật . phủ lớp phấn bài tiết, về sau trở thành kẽ sần dài. Lá mọc so le, hình mác với phía cuống hơi tròn, dài 6-19cm, rộng 3-4cm, mặt dưới màu nhạt, nhắn. Hoa đơn tính, mọc ở kẽ lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một nắm cơm (do đó có tên cây nắm cơm) hay như một quả na to. Tên lào là repa-ropo hay xung-xe. Mạc dầu có ở nước ta nhưng chưa thấy khai thác.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Phá cố chỉ
  2. Thỏ ty tử
  3. Hoài sơn
  4. Khiếm thực

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Bắc ngũ vị tử mọc ò Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây, Hồ Bắc, Thiềm Tây, Cam Túc, Nội Mông), vùng • Viên Đông nước Nga, Triều Tiên. Ngũ vị tử Triều Ttèn được coi là loại tốt. Đến mùa thu, quả chín, hái về loại bỏ cuóng và tạp chất phơi hay sấy khố. Những quả màu đỏ, hay tím đỏ, thịt dày, mẫm, bóng được coi là tốt.

Trong quả có một hay hai hạt hình thận màu vàng nâu. Điều cần chú ý là trong sách Bân thảo cương mục của Lý Thời Trân thì ngũ vị tử chia hai loại: Nam ngũ vị tử có màu đỏ, bắc ngũ vị tử được coi là tốt hơn.

Theo cách dùng trong nhân dân thì muốn cho ngũ vị tử có màu đen thì trộn ngũ vị tử với rượu (cứ 10kg ngũ vị từ dùng 2kg rượu) đun cách thùy ưong 4 giờ cho đến khi rượu cạn hết, màu chuyển đen đem phơi hay sấy là được. Nam ngũ vị tủ theo Trung dược chí thì nam ngũ vị từ chỉ được khai thác để dùng tại chỗ cho nên chưa chắc có bán sang Việt Nam ta.

Cây nam ngũ vị từ Schizandra sphenanthera có ở Trung Quốc tại các tỉnh Hà Nam, An Huy, Triết Giang, Hổ Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Sơn Tây, Thiểm tây, Cam Túc. Hình thái sau khi chế biến cũng như bắc ngũ vị tử nhưng thịt mỏng hơn, không bóng, được coi như kém hơn bắc ngũ vị tử. Cây nắm cơm ỏ ta chưa thấy được khai thác.

Theo Pételot có mọc ở Lào Cai (Sa Pa), Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Lào, nhưng chưa ai thấy lại. Petelot có nói là tại làng Nghĩa Trai (Hưng Yên) có trổng một cây mang tên ngũ vị tủ hay nắm cơm nhưng vị thuốc hoàn toàn khồng giống ngũ vị từ bắc và tác giả lại cho rằng đây chì là hạt của cây Alangium salviifolium Wang. Tóm lại vị ngũ vị tủ hiện nay hoàn toàn còn phải nhập.

C. Thành phần hóa học

Bắc ngũ vị tử có tinh dấu (vò cây 2,6-3,2%, hạt 1,6-1,9%, thân 0,2-0,7%) mùi chanh, với thành phần chủ yếu gồm 30% hợp chất sesquitecpen, 20%andehyt và xeton, quả chứa 11% axit xitric, 7-8,5% axit malic, 0,8% axit tactric, vitamin c và chừng 0,12% schizandrin (Cĩ;,H ,,07), thịt quả chứa 1,5% đường, tanin, chất màu, hạt chứa khoảng 34% chất béo gôm glyxerit của axit oleic và linoleic. Schizandrin là một chất có tĩnh thể, không có nitơ. Trong tro có sất, photpho, mangan, silicium và canxi. Không thấy glucozit hay ancaloit.

Nam ngũ vị tử (Kadsura japonica L.) có chất nhầy trong thân và quà. Trong quả còn có pectin, glucoza, tinh dầu, axit hữu cơ, protit và chất béo.

D. Tác dụng dược lý

Nhân dân vùng Viễn Đông nước Nga biết tác dụng bổ của ngũ vị từ từ lâu: Những người đi săn thường mang theo mình, mỗi ngày chỉ cần ăn một vốc tay quả khồ là có thể đi sân cả ngày không cán ăn uống mà vẫn không thấy mệt. Cũng tại đây người ta còn dùng thân, vỏ cây và quả pha nước như pha chè uống để đỡ mệt nhọc.

Đông y Trung Quốc và Việt Nam coi ngũ vị tủ là một vị thuốc bổ thận dùng trong những trường hợp thân thể mệt nhọc, uể oải không muốn làm gì, còn dùng chữa ho, liệt dương.

Ngũ vị tử được các nhà nghiên cứu dược lý hết sức chú ý kiểm tra tìm hiểu những kinh nghiệm của nhân dân, đặc biệt tại Liên Xổ cũ, Triều Tiên. K. V. Drake, V. A. Ephimôva, L. N. Markova (1949, 1954) dã chứng minh rằng với liều nhỏ và trung bình (0,2-0,5mg/lkg thể trọng) tiêm vào mạch máu (dạng nước hãm) có tác dụng làm mạnh hệ thống tim mạch của những động vật máu nóng, làm mạnh huyết áp và tăng biên độ co của tim, kích thích hô hâp, tâng nhịp và làm sâu biên độ hô hấp; với nồng độ 1:1.000- 1:2.000 làm giãn mạch tai cò lập của thỏ từ 40- 60 đến 100%

Thí nghiệm còn chứng minh rằng nước hãm và cồn quả ngũ vị tử với liều 0,2-0,3mg/lkg thể trọng có tác dụng kích thích hệ thống thần kinh, làm tăng khả năng phản xạ có điều kiện trên chuột bạch bình thường hãy đả gây mé.

Thuốc chê từ quả và hạt có tác dụng mạnh hơn là thuốc chế từ vỏ và thán cây. Ngũ vị’tử tán nhỏ cho uống có tác dụng kích thích đối với phản xạ chân sau của chó. Với liều cao (3g/lkg thể trọng) có tác dụng kích thích đối với hệ thông thần kinh trung ương và sau cùng thì ức chế chức năng này. Khi dùng liều nhỏ (0,5-lg/lkg) thì tác dụng bắt đau sau 4-6 giờ, liều cao hơn (tác dụng xuất hiện sau 1-2 giờ), thời gian tác dụng kéo dài từ 4-20 giờ. V. A. Ephimôva còn nghiên cứu tác dụng của ngũ vị từ đối với khả năng kích thích của hệ thống thẩn kinh cơ trên người từ 18 đến 54 tuổi đã nhận thấy rằng 11 người trên 13 người uống ngũ vị tử đã thấy khả nâng kích thích của thần kinh cơ được tăng lên, chức nàng cùa hệ thần kinh ngoại vi được mạnh lên. Đối với thiếu niên, liều 0,5g, đối với người trường thành liều l,5g cho tác dụng mạnh nhất.

E. Công dụng và liều dùng

Tại nước ta, ngũ vị tử còn chỉ mới được sử dụng trong phạm vì một vị thuốc đồng y, tại LiÊn Xô cũ, Triều Tiên và một số nước khác, ngũ vị tử đã được sử dụng như một vị thuốc tây yTính chất ngũ vị từ theo íỉông y là: Vị chua, mặn, tính ôn, không độc, vào hai kinh phế và thân. Có tác dụng liễm phế, cố thận, cố tinh, chì mồ hôi, dùng làm thuốc trừ derm, tu bổ, cường âm, ích khí, bổ ngũ tạng, thèm tinh trừ nhiệt. Trong đống y, ngũ vị tử là một vị thuốc dùng chữa ho, hơi thờ hổn hển, ho khan, còn dùng làm thuốc cường dương, chữa liệt dương và mệt mỏi, biếng hoạt động.

Tuy nhiên đối với những người có biéu tà, có thực nhiệt thì không nên dùng. Trong tày y (Nga) ngũ vị tử được dùng làm thuốc kích thích hệ thống thần kinh trung ương, trong trường hợp lao động chân tay và trí óc quá độ, mệt mỏi về tinh thần và thể lực, uể oải buồn ngủ. Dùng dưới dạng cồn thuốc, hột hay thuốc viên:

Cồn ngũ vị tử chế bằng cồn 70° thì dùng với liều 30-40 giọt một lần, ngày dùng 2 lần, chế với cổn 90° thì dùng mỗi-lần 20-30 giọt, ngày dùng hai đến ba lần. Thường đóng thành lọ 25- 5 Om ì. Bột ngũ vị tử dùng mỗi lần 0,5g, ngày uống hai lần. Viên cũng như vậy. Cao chế từ hạt dùng cổn 70° theo tỷ lệ 1:3, dùng mỗi lần 20-30 giọt, mỏi ngày uống ba lần.

Ngũ vị tử còn dùng để tãng sức khi đẻ: Dùng cao hạt ngũ vị lừ (cồn 70° với tỷ lệ 1:3), cho uống ba lần mỗi lần 20 đến 30 giọt, mỗi lần cách nhau một giờ. Tài liệu hướng dẫn ngũ vị tử của Liên Xô cũ đểu nói sử dụng cẩn có theo dõi của thầy thuốc để tránh hiện tượng thần kinh và tim mạch bị kích thích quá. Không nên dùng đối với những trường hợp thẩn kinh đã bị quá kích thích, cao huyết áp, rối loạn tim.

Đơn thuốc có ngủ vị tứ trong nhàn dân

Chữa liệt dương: Ngũ vị tử 600g tán uống, mỗi lán 4g. Ngày uống ba lẩn. Kiêng thịt lợn, cá, tỏi, dấm. Uống hết đơn thì khỏe, giao hợp được (theo Thiên Kim Phương-tài liệu cổ chưa kiểm tra).

Chữa thận hư, tiểu tiện tráng đục, đau suốt hai hên sườn và lưng: Ngũ vị tử sao dòn, tán bột, lấy dấm thanh nấu hổ luyện thành viên nhỏ bàng nửa hạt đậu xanh, mỗi lần uống 30 viên, chiéu bằng nước nóng (theo Thiên Kim Phươngtài liệu cổ chưa kiểm tra).

Chữa phụ nữ ám môn giá lạnh: Ngũ vị tử 160g tán bột, dùng nước tiểu trộn làm thành viên bằng hạt ngó, để vào âm món (theo Cận Hiệu Phương-tài liệu cổ chưa kiểm tra).

Chữa ho lâu, phối viêm: Ngũ vị từ 80g, túc xác tẩm với đường sao qua 20g, hai vị tán bột, luyện với kẹo mạch nha viên bằng quả táo mỗi lẩn ngậm một viên (theo Vệ sinh gia bào- tài liệu cổ). Chữa ho đờm và thở: Ngũ vị tử, bạch phàn hai vị bằng nhau, cùng tán bột, mỗi lán dùng 12g, lấy phổi lợn nướng chín, chấm bột mà ăn, chiêu bằng nước nóng (theo Phổ Tế Phương-tài liệu cổ).

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Ngũ vị tử”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin