Enter your keyword

Nhân sâm

1,230,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 1 vote[s]

Nhân sâm còn có tên là viên sâm, da nhân sâm.

Tên khoa học Panax ginseng c. A. Mey. (P. schinseng Nccs.)

Thuộc họ Ngũ gia bì Araliaceae.

Tên nhân sâm do vị thuốc giống hình người.

Tên Panax do chữ Hy Lạp pan là tất cả, acos là chữa được, có ý nói vị thuốc chữa được mọi bệnh, ginseng và schinseng là phiên âm chữ nhân sâm.

Mặc dẩu vị nhân sâm hiện nay ta vẫn còn phải nhập nhưng công dụng quá phổ biến, nhiều người lầm với một số cây ta có. Liên Xô cũ, Trung Quổc, Triều Tiên đểu đã giúp ta hạt giống và mẩm để thí nghiệm trồng thủ cho nên chúng tôi giới thiệu ở đây để tránh nhẩm lẫn và để cố 804 gắng đặt vấn dề di thực được nhân sâm. Nhân sâm (Radix ginseng hay Radix ginseng sylvestris) là rể chế biến rồi phơi hay sấy khô của cây nhân sâm trồng hoặc mọc hoang. Có tác giả xác định hai loại nhân sâm như sau:

1. Nhân sâm mọc hoang: Panax ginseng c. A. Mey. forma sylvestre Chao et Shih.

2. Nhân sâm trồng: Panax ginseng c. A. Mey. forma sativum. Chao et Shìh.

A. Mô tả cây

Nhân sâm Cây nhân sâm là một cây sống làu năm, cao chừng 0,6m. Rễ mẫm thành củ to. Lá mọc vòng, có cuống dài, lá kép gồm nhiêu lá chét mọc thành hình chân vịt.

Nếu cảy mới được một năm (nghĩa là sau khi gieo được 2 năm) thì cây chỉ có 1 lá với 3 lá chét, nếu cây nhân sâm được 2 năm cũng chỉ có 1 lá vói 5 iá chét. Cây nhân sâm 3 nam có 2 lá kép, cây nhân sâm 4 năm có 3 lá kép, cây nhân sâm 5 năm trở lên có 4 đến 5 lá kép, tất cả đéu có 5 lá chét (đặc biệt có thể có 6 lá chét) hình trứng, mép lá chét có rãng cưa sâu.

Bât đầu từ năm thứ ba trờ đi, cây nhân sâm mới cho hoa, kết quà. Hoa xuât hiện vào mùa hạ. Cụm hoa hình tán mọc ờ đầu cành, hoa màu xanh nhạt, 5 cánh hoa, 5 nhỊ, bầu hạ 2 núm.

Quả mọng hơi dẹt to bằng hạt đâu xanh, khi chúi có màu đỏ, trong chúa 2 hạt. Hạt cây sâm năm thứ 3 chưa tốt. Thường người ta bấm bỏ đi đợi cày được 4-5 năm mới để ra quả và lay hạt làm giống.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. La hán quả
  2. Tri mẫu
  3. Bạch quả

B. Phân bố, trồng hái và chế biến

Cây nhân sâm mọc hoang và được trồng ở Trung Quốc, Triều Tiên, vùng Viễn Đông của Liên Xô cũ, còn được trồng ờ Nhật Bản, Mỹ, nhưng nổi tiêhg vẫn là sam Triều Tiên và Trung Quốc.

Riêng hai tỉnh Liêu Ninh và Cát Lâm (miền Đông Bắc Trung Quốc) sản lượng hàng nãm lên tới 750.000kg. Tại Triều Tiên, Khai Thành là nơi trồng nhiều nhân sâm nhất, đã có trên 200 năm kinh nghiộm. Việt Nam tuy dã có thí nghiệm trồng bằng hạt và mầm do các nước bạn Triểu Tiên, Liên Xô cũ và Trung Quốc giúp nhưng chưa thành công. Sau dây chúng tôi giới thiêu sơ lược cách trồng và chế biêh nhân sâm của Khai Thành (Triều Tiên).

1. Chọn hạt giếng: Chọn ở những cây sâm mọc khoẻ, tốt đã mọc được 4 hoặc 5 năm (vùng Đông Bắc Trung Quốc chọn những cây đã được 5-6 năm) vì cây 3 năm chưa đủ khoẻ cây, 6 năm vỏ hạt cúng quá khó nảy mầm.

2. Gieo hạt Hạt thu hoạch tháng 8, cuối tháng 10-11 gieo hạt, tưới nước và để nằm dưới đất qua mùa đông có tuyết. Cuối tháng 4 đẩu tháng 5 năm sau, hạt nảy mầm. Tỳ lệ nảy mầm đạt tới 47%. Trong thời gian cây lớn cần tưới đều giữ ẩm thích hợp.

3. Đánh cày con đi trống Có thể đánh vào mùa thu (cuối tháng 10 đến trung tuẩn tháng 11) hoặc vào mùa xuân (đầu tháng 3 đến đầu tháng 4) ngay trong nãm đầu sau khi cây nảy mầm. Đánh đi trồng vào mùa xuân thì tốt hơn. Trong thời gian trổng cần che nắng cho nhân sâm, nên cho ánh nắng buổi sáng chiếu vào nhiều tránh nắng trưa và chiểu. Phân bón dùng phân xanh và khô dầu, không bón thúc bằng phân bắc và nước tiểu.

4. Thu hoạch Sau 6 năm, vào trung tuần tháng 9 và thượng tuần tháng 10 đào củ, chú ý tránh làm rễ bị đứt, không phơi gió, phơi nắng để giữ nguyên độ Ẩm trong sâm. Sau đó chia loại sâm tốt để chế hổng sâm, loại kém để chế bạch sàm.

5. Chế biến nhân sâm Trẽn thị trường có nhiều loại sàm do chế biến khách nhau. Ở đây chỉ giói thiệu cách chế biến hai loại hồng sâm và bạch sàm của Triều Tiên.

a) Hồng sâm: Chọn những củ sâm to nhất, năng ít nhất 37g, rủa sạch đất tùng củ một bằng bàn chải nhò, rửa ở duới nuóc, để nguyên cả rẻ, kể cả rễ nhỏ, rửa như vậy sẽ được củ sâm trắng ngà. Cho vào nồi hâp ờ áp lực hơi nước cao 2 atmotphe từ 1 giờ 20 phút đến 1 giờ 30 phút. Nhiệt độ hấp 80-90°C. Sau đó sấy khô ở nhiệt độ 60-70“ c (6-7 giờ) hoặc ở 50- 60° (8-10 giờ) nén sáy khô hết sức mau.

Sau khi sấy khô, dùng tay rứt các rổ con để riêng gọi là ru sâm, củ sâm còn lại giống như hình người (nếu không giồng thì sửa cho giống) phơi ra nắng từ 7 đến 15 ngày (tuỳ theo sâm to hay nhò) là được. Sau đó chia hồng sâm thành hai cấp: Cấp trời (màu đẹp, dáng đều đặn, giống người), còn lại cấp đất. Cuối cùng đóng gói từng cân ta (600g) một.

Loại tốt nhất 15 củ nặng 600g loại kém nhất 60 củ=600g. h) Finch sám: Vì sâm này khò và trắng. Những củ sâm không đủ tiêu chuẩn chế hổng sâm thì đem chế bạch sâm.

Trước hết cát bò rể con, dùng dao tre cạo sạch vỏ mỏng, sau đó phơi nắng cho hơi khò, đem vào sủa thành hình người rồi lại phơi nắng cho khố hẳn.

Thời gian phơi cả tnrớc lẫn sau hết chừng 7 đêh 15 ngày. Sau đó đóng gói như hồng sâm. Thường hồng sàm được đóng vào hòm gỗ, bạch sâm đóng vào hòm giấy.

Gần đây, tại nhiều nước, nhân sâm đã được phát triển bàng nuôi cấy mô để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về nhân sâm.

C. Thành phần hoá học

Nhân sâm được nhiểu người nghiên cứu từ lâu. Nhung kết quà còn chua đáp ứng được đòi hỏi của các nhà khoa học. Sau đây là một số kết quả:

1. Trong nhân sầm có loại saponin sterolic. Hỗn hợp saponin có tên là panaxozit trưóc đây gọi là panaquilon hay panakilon.

2. Chất glucoát hoặc hỗn hợp glucoát mang tồn là panaxin cũng chua được nghiên cứu sâu. Truớc đây gọi là gensenin cũng là một loại saponin chưa tinh khiết lấm.

3. Ngoài ra còn có một tí tinh dầu 0,055-0,250% làm cho nhân sâm có mùi đặc biệt, trong đó chủ yêu là chất panaxen CjjHy.

4. Các vitamin B] và B2, các mendiataza.

5. Tro chùng 3-7% trong đó có chừng 53% axit photphoric.6. Các tạp chất khác gồm nhụa và chất béo tổng sô chừng 1,5%. Các axit béo gồm hỗn hợp axit panmitic, stearic và linoleic. Hổn hợp này mang tên axit panaxíc.

7. Các chất khác gồm có phytosterin 0,029%- tinh bôt chừng 20%, chất pectin 16-23% và đường 4 % . .

8. Mới đây người ta lại thấy trong nhân sâm có hàm lượng germanium cao.

D. Tác dụng dược lý

Được nhiều người nghiên cứu và có rắt nhiều tài liệu nói đến. Sau đây chúng tòi chỉ tóm tắt một số kết quả:

1. Tác dụng trén hệ thần kinh: Từ xưa, tại Trung Quốc người ta đã biết thí nghiệm tác dụng làm giám mệt của nhân sâm. Ví ■ dụ trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Tràn (thế kỷ thứ 16), có ghi cách thử nhân sâm như sau: “Cho 2 người cùng chạy, một người có ngậm miếng nhân sâm, một người không ngậm, sau khi chạy độ 3 đến 5 dặm ngưòi không ngậm nhân sâm sẽ thở mạnh còn người có ngậm nhân sâm vẫn thờ như thường”. Trong các nãm 1949-1951 tại Liên xỏ cũ, Abramôva có thí nghiệm theo phương pháp cho chuột nhắt lội nước thì thấy nhân sâm có tác dụng làm chuột đỡ mệt. – Năm 1947, Lazarev đã nghiên cứu và kết luận rằng nhân sâm có tác dụng hưng phấn thần kinh trung ương, dùng với liều điều trị có thể làm dờ mệt, tăng hiệu suất công tác, so với thuốc phenamin thì tốt hơn. – Năm 1955, Drake theo phương pháp của Zacuxov dã chứng minh liểu điều trị của nhân sâm có khả năng rút ngắn thời kỳ phản xạ tiềm phục của thần kinh và làm mau sự chuyển động cùa thần kinh. Nhưng liểu cao quá có thể gây hiện tượng quá trấn tĩnh (Chu Nhan-Chu Kim Hoàng, Trung Hoa y học tạp chí, 12-1956).

2. Tác dụng trên huyết áp vá tim Các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ: Burkrat và Xakxopov (1947) và Kixêlev (1948-1959) đã nghiên cứu nước sắc và cồn nhân sâm, kết luận rằng tác dụng của dung dịch nước và dung dịch rượu nhân sâm như sau: Kixêlev dùng dung dịch 5%, 10% và 20% nhân sâm tiêm vào tĩnh mạch thỏ và mèo thấy tác dụng hạ huyết áp, nồng độ càng cao tác dụng ức chế trên tim càng mạnh, nhưng nếu nồng độ thãp thì lại co bóp tim mạch và số lần bóp càng tăng, do đó ông đã kết luân rằng nhàn sàm có hai hướng tác dụng trên thần kinh thực vật: Liều nhỏ có tác dụng như thần kinh giao cảm, liều lớn có tác dụng như thần kinh phế vị (nerf vague).

3. Tác dụng trên hô hấp Năm 1947 Burkrat và Xakxopov đã báo cáo dùng 0,3-0,5ml dung dịch nhàn sâm 20% tiêm vào tĩnh mạch mèo thấy nhân sâm hưng phấn hô hấp. Một số nhà nghiên cứu Nhật Bàn và Trung Quốc trưóe đó đã tiêm vào tĩnh mạch thò chất ginsenin thấy liều nhò làm tăng hô hấp, liều cao có tác dụng ngược lại, nếu tiêm axit panaxic hay chất panaxen cũng thấy tác dụng như vậy. Tuy nhiên ở trên mới chỉ thây tác dụng khi tiêm còn chua tháy tài liệu nghiên cứu tác dụng của việc uống nhân sâm đới với hô hấp.

4. Tác dụng đối với chuyển hoá cơ hàn. Năm 1922 hai tác giả Nhật Bản: Hà Bộ Thắng Mã và Nại Đàng Hệ Bình đã nghiên cứu tác dụng của bột nhân sâm và chất tan trong cồn của nhân sâm (uổng và tiêm) đối với bệnh huyết đường quá cao nhàn tạo trên thỏ, đều thấy có tác dụng rõ rệt làm hạ mức huyết đường xuống. Năm 1954 và 1956 một số tác giả Trung Quốc cũng xác nhận trong Trung Hoa nội khoa tạp chí và Trung.Hoa y học tạp chỉ tác dụng hạ huyêt đường của nhân sâm. Trên lâm sàng người ta dã thấy (Khâu Thần Ba, 1955) rằng nếu dùng nhân sâm chung với insulin thì có thể giảm bớt lượng insulin, thời gian hạ huyết đường được kéo dài hơn và chữa được bẻnh tiểu đường.

5. Tác dụng đối với sự sình trưởng và phát dục của động vật (máu lạnh hoặc máu nóng, cỏn trùng) Cho uớng hoặc tiẽm thuốc chế bằng nhân sâm hoãc các chất lấy từ nhân sầm trên một sô’ động vật so sánh với động vật không dùng nhân sâm, thấy trọng lượng con vật tăng lên, thời gian giao cấu của con vật kéo dài, hiện tượng tình dục xuât hiện rõ lệt.

6. Tác dụng đổi với sức chông đỡ bệnh tật Những thí nghiệm của Daugolnikov (1950- 1952), Brekhman và Phruentov (1954-1957) và Abramov (1953) cho biết nhân sâm có tác dụng tăng sức đề kháng của động vật đối với tật bệnh.

7. Độc tính của nhàn sâm Kixêlev đã tiêm vào dưới da chuột nhắt lml dung dịch nhân sâm 20% thấy sau 10-12 giờ chuột chết với trạng thái “mất sắc”. Nhưng cho uống thì độc tính rất ít.

E. Công dụng và liều dùng

Nhân sâm là một vị thuoc cổ truyén trong đổng y. Các sách cổ thường ghi nhân sâm bổ nãm tạng (tàm, can, tỳ, phế, thận) yêu tinh thần, định hồn phách, làm khỏi sợ hãi, trừ tà khí, sáng mắt, uống lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ, chữa các chứng đau ruột, dạ dày, nôn mửa.

Cách dùng ưong nhân dản như sau:

1. Sâm thái mông, cho vào miệng ngậm và nhâm tùng ít một, nuốt nước và cả bã.

2. Thái mỏng, cho vào ám hay chén sứ. Thèm một tí nước đậy nắp. Đun cách thuỷ, uống nước. Sau đó lại thêm nước và đun cách thuỷ tiếp tục uống, làm như vậy cho đêh khi hết mùi vị mới thôi. Ngày dùng 2-6g. Theo tài liệu Cở, nhàn sâm vị ngọt, hơi đắng, tính ôn (lá có vị đắng, hơi ngọt), vào 2 kinh tỳ và phế. Có tác dụng đại bó nguyên khí, ích huyết sinh tân, định thần, ích trí. Dùng chữa phế hư sinh ho suyễn, tỳ hư sinh tiết tả, vị hư sinh nôn mửa, bệnh lầu ngày khí hư, sợ hãi, tiêu khát. Những người bệnh có thực tà không dùng được. Sau đó do các công trình nghiên cứu vể nhân sâm đặc biệt cùa Liên Xô cũ, Trung Quốc, nhân sâm được tây y công nhận và SỪ dụng coi như thuốc tây. Dược thư Liền Xô xuất bản lẩn thứ 9 năm 1961 cóng nhận nhân sâm là vị thuốc chính thức trong y học Liẽn Xô. Có thổ dùng dưới dạng thuốc sắc 5 hay 10% với liều 15-30ml một lẩn, ngày dùng 3 lần, hoặc dưới dạng cổn nhân sâm với liêu 15 giọt một lần, ngày uống 3 lẩn.

V ài đ ơ n th u ố c có n h à n sâ m tro n g dô n g y ỉ. Độc sâm thang (đơn thuớc có một vị nhân sâm) chữa cơ thể quá suy nhược sau khi mất máu nhiều, thần kinh suy nhược: Nhân sâm 40g. Nước 400ml (2 bát) sắc còn 200ml (1 bát), cho uống từng ít một, không kể thòi gian. Uống xong cần nằm yên. 2 Sâm phụ thang chữa những trường hợp mạch suy, kiệt, mồ hôi ra nhiều, chân tay lạnh: Nhân sâm 40g (có thể 20g), chế phụ tử 20g (có thể dùng lOg), sinh khuơng 3 nhát, táo đen 3 quả, nước 3 bát (600ml) sắc còn 200ml (1 bát) chia làm nhiều lẩn uống bong ngày. N h ữ n g vị th u ố c d ù n g thay n h ã n sám Trên thị trường hiện nay có nhiều vị dùng lầm với tên nhân sâm. Ngoài các vị được giới thiệu kỹ ờ sau như thổ cao ly sâm, bô chính sàm v.v… còn có vị thái tử sâm hay hài nhi sàm được vùng Giang Tô Trung Quốc dùng thay nhân sâm và cũng có khi đưa bán ở nước ta. Đó là rễ cây Pseudosteììaria raphonorrhiia (Hemsl). Pax thuộc họ cẩm chướng Caryophyllaceae. Cây này là một loại cây cỏ nhỏ cao 7-15cm, chưa thấy ở nước ta. Thành phán hoá học và tác dụng dược lý chưa được nghiên cứu. Có người mói phát hiện trong thái tử sâm có fructoza. Dùng làm thuổc bổ, chữa trẻ con đổ mồ hôi trộm, kém ăn, với liều 8-12g một ngày (Hình 621).

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Nhân sâm”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin