Enter your keyword

Nhân trần

150,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 9 vote[s]

Nhân trần là một vị thuốc thường dùng trong nhân dân chữa bệnh vàng da, bệnh về đường mật và bệnh của phụ nữ sau khi đẻ.

Các bà mẹ thường truyền dạy cho con gái câu: ” Nhàn trần, ích mẫu đi đâu? Để cho gái đẻ đớn đau thế này “,

Tuy nhiên, tên nhân trần lại dùng để chỉ ít nhất cũng là 3 cây khác nhau, hình dáng và họ thực vật khác hẳn nhau.

Cần chú ý khi sử dụng và nghiên cứu:

1. Cây nhân trần Việt nam (chữ Việt nam là do chúng tôi tạm thêm để phân biệt mấy cây với nhau).

Tên khoa học được một số nhà thực vật của ta xác định là Adenosma caeruleum R. Br, thuộc họ Hoa mõm chó Scrophularìaceae.

2. Cây nhãn trán bồ bồ vì một số vùng gọi là bổ bồ, một số vùng khác gọi là nhân trần. Trong những sách do chính chúng tôi viết và cho in, một số tác giả trước đây thường gọi là nhân trần.

Nhưng trên thực tế điều tra lại, tên bổ bồ phổ biến hơn. Hiện nay Công ty dược liệu vẫn thu mua và cung cấp cây bồ bồ này với tên nhần trần.

Tên khoa học ỉkAdenosma capìtatum Benth. thuộc họ Hoa mõm chó Scrophulariacơse. Trước đây xác định là Acrocephalus capitatus thuộc họ Hoa môi Labiatae. Nay mới đính chính lại

3. Cây nhân trần Trung Quốc (chữ Trung Quốc chúng tòi cũng mới thêm sau để phân biệt mấy cây với nhau).

Trong các sách Trung Quốc không có thêm 2 chữ Trung Quốc vào mà lại gọi là nhân trần cao. Tên như vậy vì trên thực tế chi thấy giới thiệu trong các sách Trung Quốc, chưa thấy mọc ờ Việt Nam, có tên khoa học là Artemisia capillaris Thunb. thuộc họ Cúc Composìtae.

Hai cây trên được sử dụng phổ biến ở Việt Nam, nhưng ít được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chua đẩy đủ, còn cây nhân trần Trung Quốc không thấy sử dụng ở ta nhưng lại được nghiên cứu tương đối kỹ. Chúng tôi giới thiệu cả 3 cây để tiện đôi chiếu tham khảo khi sử dụng và nghiên cứu.

A. Mô tả cây

1. Cây nhân trần Việt Nam-cbn có tên nhàn trân cái (ở miền Bấc) để phân biệt với cây nhân trần đực (tức bó bồ)-tên khoa học Adenosma caeruleum R. Br.

Cây này thưcmg được nhân dân vùng Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh gọi là Nhân trần nhưng nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh gọi nhầm là hoắc hương núi. Đây là một loại cỏ mọc hoang, sống hằng năm cao 0,3-1 m, thản tròn, màu tím trên có lông trắng mịn, ít phân cành. Lá mọc đối hình trứng, đầu lá dài và nhọn, mép có ràng cưa to, mặt trèn và mặt dưới đều nhiẻu lông mịn, phiến là dài 3-8cm, rộng 1- 3,5cm, gân nổi rõ ờ mạt dưới, cuông 5-10mm.

Toàn thân và lá vò có mùi thơm. Hoa mọc đơn âộc ở kẽ lá hay thành chùm bông ờ đầu cành. Đài hình chuông xẻ thành 5 thuỳ sâu.

Tràng màu tím xanh dài 10-14mm, môi trên hình lưỡi, môi dưới xẻ thành 5 thuỳ đều nhau. Quả nang hình trứng, dài bằng đài, nhiều hạt nhỏ.

2. Cây bồ bồ (tên gọi ờ vùng VTnh Phúc, Phú Thọ) một số nơi gọi là nhân trẩn (trong lần in trước, chúng tôi cũng gọi là nhân trần, ờ miền Nam gọi là nhân trần đực để phân biệt với nhân trần cái cùa miền Nam hay nhàn trần tíaịAdenosma capilalum Benth. (mới đây có tác giả xác định là Adenosma ìndianum (Lour) Merr.- cần kiểm tra lại). Là một loại cỏ cao 15’70cm, mang nhiều cành ngay từ gốc, thân nhẩn hay hơi có lông. Lá mọc đối có cuống.

Phiến lá hình mác dài, đầu nhọn, phía cuống hẹp lại, mép hơi khía tai bèo hay có răng cưa. Cụm hoa hình cầu, rất nhiều hoa thường có 2 lá bắc. Hoa nhỏ không cuống, đài có lông với 2 môi, môi trên nguyên, môi dưới xẻ 4. Tràng cánh hợp với 2 môi, môi trên xẻ 4, môi dưới nguyên, 4 nhị 2 chiếc dài

3. Cày nhân trần tím (hay nhân trần cái của miền Nam) còn có tên nhân trán lá bắc (tên do một nhà thực vật Việt nam tự đặt ĩáyAdenosma bracteosum Bonnati cùng họ Hoa mõm chó.

Thân và cành có màu tím đỏ, cụm hoa thành bông dài mang ở gốc những lá bắc tạo thành tổng bao, những lá bắc phía trên lợp lên nhau, dạng màng, trong suốt, hình tim có chóp nhọn.Mọc tốt ỏ các đất có phèn của miền Nam. Mọc vào tháng 5 (mùa mưa) ra hoa tháng 10-1. Tàn lụi tháng 1 -2. Hạt từ các nang rụng xuống, đến mùa mưa lại mọc lên.

4. Cây nhân trần Trung Quốc-thường gọi nhân trần cao-Artemisia capillaris Thumb, họ Cúc Asteraceae (Compositae) cao 0,4-lm. Lá xẻ thành thuỳ rất nhỏ hình sợi trông gần giống cây thanh hao (chổi xuể-xem vị này). Hoàn toàn khác hẳn 3 vị nói ở trên.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Cà gai leo
  2. Ngưu bàng tử
  3. Ma hoàng
  4. Tế tân

B. Phân bố, thu hái và chế biên

Nhân trẩn và bồ bổ thường mọc hoang ở những đổi, những ruộng vùng trung du miền Bắc, nhiều nhất tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh.

Ở các tỉnh phía Nam có nhân trần tía mọc xen với bồ bồ. Còn mọc ở Thái Lan, Ẩn Độ, Indônêxya. Chưa ai đặt vấn đề trổng. Trổng bằng hạt. Thường thu hái vào mùa hè khi cây đang ra hoa. Đem về phơi hay sấy khô, bó thành từng bó dài 25-30cm, đường kính 5-6cm, trọng lượng 40- 60g, gồm chừng 20 cây mang hoa buộc lại thành một bó.

Có khi bó thành bó lớn hơn. Công ty dược liệu hiện thu mua bổ bồ với tên nhân trần. Để phân biệt, ta có thể dựa vào cây khố có cụm hoa hình cầu trỏng như họ Cúc đó là bồ bồ.

Còn cây khô, hoa thường bị rụng là nhân trần.

C. Thành phần hoá học

Cây nhân trần-Adenosma caeruleum-íi thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ chúng tôi thấy có tinh dầu có mùi cineol, hoạt chất của tinh dầu tràm, khuynh diệp. Năm 1975, Lê Tùng Châu và cộng sự phân tích trong nhân trần có saponin tritecpenic, flavonozit, axit nhân thơm, cumarin và tinh dầu. Cả cây có ĩ % tinh dầu, hoa có 1,86% tinh dầu tỷ trọng 0,8042 (25°) nD= 1,4705 (20°) 0CD=+4“8. Thành phần tinh dầu nhân trần khác với thành phần tinh dầu bồ bổ.

Cây bổ bổ – Adenosma capitatum được F. Guichard và J. Clemensat phân tích năm 1939 dưới tên nhân trần và thấy 1,67% kali nìtrat, một saponin có chi số bọt 2.600, một glucozit tan trong axeton, trong ête, không tan trong nước và chừng 0,7% tinh dầu. Tinh dầu bồ bồ lỏng, màu vàng, mùi hăng gần giống như mùi long não và bạc hà, vị nóng. Rất tan trong cồn metylic, etylic, clorofoc và các dung môi hữu cơ khác.

Tỷ trọng ở 15°c là 0,914, chỉ số khúc xạ ờ 20°c là 1,4733 và ỏ 30°c là 1,4717. Thành phần chù yếu của tinh dầu gồm 20% hợp chất oxy tan trong dung dịch resorcin, 50%. Chi sô’ axit 1,4. chỉ số xà phòng hoá 11,5; chỉ số axetyl hoá 38; chỉ sô’ iôt 121,4. Năm 1950, p. V. Nair và cộng sự đã cất dược từ cây bổ bồ 1% tinh dầu và đã phân tích thấy có 51.monoterpen và 2d.sesquiterpen trong đó có 38,5% cineol, ngoài ra còn thấy limonen.

Năm 1974, Lẽ Tùng Châu đã phân tích thấy trong tinh dầu bồ bồ Việt Nam có 22,6% 1. limonen, 11,6% humulen, 33,5% 1. fenechon và 5,9% cineol.

Ngoài ra còn thấy saponin, tritecpenic, flavonoit, axit nhân thơm và cumarin. Toàn cây có 0,8% tinh dầu, lá 2,15%, hoa 0,82%, tỷ trọng 0,912 (20°) nD =1,4768, D-44,920.

Nguyễn Viết Tựu và cộng sự (PV dược liệu TP Hổ Chí Minh) phân tích thấy trong nhân trần tía có 0,25% tinh dẩu, mầu vàng sầm, tỷ trọng 0,890, chỉ số khúc xạ 1,496, sắc ký khí thấy 19 pic trong đó có 5 pic lớn cineol khoảng 18%.

Ngoài ra còn có flavonoit, hợp chất polyphenol và cumarin. Cây nhãn trấn Trung Quốc-Artemisia capìỉlaris chứa 0,23% tinh dầu, vói thành phần chủ yếu là pinen, capilen C6H5-C7H9 và một loại xeton, C13HhO.

D. Tác dụng dược lý

Năm 1939, Guíchard và Clemensat chỉ nghiên cứu tác dụng của nước cất bồ bổ và thanh huyết mặn có pha tinh dầu bổ bồ (ngâm tinh dầu với nước trong vài giờ) trên giun Lombricus thì thấy ngay từ đầu con giun quằn quại trong vòng 10- 15 phút.

Nước no tinh dầu có tác dụng mạnh hơn nước cất bổ bồ. Đổi với giun đũa (As car is) cũng có hiện tượng như trên nhung yếu hơn và con giun chỉ chẾt sau 2 đến 3 giờ. Đối với giun móc câu (ankylostome) con giun chết ngay sau 10 đến 15 phút.

Thí nghiệm dộ độc trên thỏ, vói liều cao hơn liều tinh dầu giun thường dùng cho người cũng không thấy hiện tượng ngộ độc nào.

Hai tác giả đã đi tới kết luận: Hy vọng có thể dùng tinh dầu bồ bồ làm thuốc tẩy giun như tinh dầu giun. vẻ tác dụng thông mật của hai vị nhân trán và hổ hồ Việt nam theo như kinh nghiệm dùng trong nhân dán:

Năm 1975, Lê Tùng Châu (Viện dược liệu Hà nội) và Nguyễn Viết Tựu (PV dược liệu TP Hồ Chí Minh) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của nhân trần, bồ bồ và nhân trần tím đã đi đến kết luận sau đây: Bổ hồ làm tăng tiết mật rõ rệt ở cả 3 lô thí nghiệm (cao cồn 40″, cao nước và tinh dầu).

Tác dụng mạnh nhất ò cao côn. Còn tác dụng tăng thải độc của gan chỉ có ở cao cổn và tinh dẩu mà thôi. BỒ bồ có tác dụng chống viêm trên cả 3 mô hình thực nghiệm ( phù caolin, u hạt, theo tuyến ức) nhưng tác dụng này chù yếu do những thành phần tan trong cồn 40° và tan trong nước, còn tinh dầu tác dụng khỏng rõ.

Bổ bổ có tác dụng kháng khuẩn trên nhiều loại vi khuẩn mạnh nhất là trên 2 chủng trực khuẩn lỵ (Sh. dysenteriae 111 và Sh. Shigae 39) và 2 chủng cầu khuẩn (Staphylococcus aureus 209P và Streptococcus hemolyticus S84).

Tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất ờ cao cồn và cao nước, yếu ở tinh dầu. BỒ bồ cố tác dụng rõ rệt làm giảm tiết dịch vị, giảm độ axit tự do và axit toàn phần của dịch vị, làm giảm loét dạ dày cùa thực nghiệm. Độc tính cùa bồ bồ không đáng kề: Với liều có tác dụng dược lý, dùng liên tục trong thời gian dài không thấy biểu hiện nhiểm độc thuốc.

Với liẻu cao hơn liều tác dụng 20 lẩn không làm súc vât chết. Nhân trần

1. Nhân ưần có tác dụng tăng tiết mật và tăng thải độc cùa gan. Nhưng so sánh tác dụng lên gan, mật của bồ bồ và nhân trần thì tác dụng của bồ bổ mạnh hơn.

2. Nhân trần cũng có tác dụng chống viêm trên cả 3 mỏ hình. Nhân trần và bổ bồ có tác dụng tương đương ờ mô hình phù caolin và teo tuyến ức nhưng đối với mô hình u hạt thì nhãn trần chưa bằng 1/2 của bồ bồ. Trên phù caolin với liều 15g/kg thể trọng thì ức chế phù cùa nhân trần lại giảm.

3. Tác dụng kháng khuẩn của nhàn trần kém hơn bổ bổ nhất là với trực khuẩn lỵ. Nhưng nhân trán ức chế mạnh hơn với Staphyllococcus và Streptococcus.

4. Nhân trần tác dụng không rõ rệt lên tiết dịch vị: Không giảm loét dạ dầy, không giảm tiết dịch vị, có làm giảm axit tự do và axit toàn phẩn tuy nhiên hai tác dụng này lại giảm khi dùng liều cao.

5. Như bồ bồ, nhân trần không độc.

Nhân trần tía

1. Dịch chiết cồn 90″ có độc tính cao hơn nước sắc nhân trần tía. Với liều lượng 300mg/ kg thể trọng dịch chiết nước không thấy chuột lang chết.

2. Làm tăng lượng tiết mật ưên chuột lang. Lượng mật tăng gần 25% so với lô đối chứng. Nhung đối vói nhân trần Trung Quốc, Artemisia capillaris chủ yếu các tác giả nghiên cứu tác dụng chữa sốt và một số tác dụng khác.

Năm 1929, 3 nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tiêm thuốc chiết bằng nước từ cây nhân trần Trung Quốc cho chó đánh mê, đã phát hiện ràng nhân trán có tác dụng tăng sự bài tiết và ức chế nhu động ruột.

Năm 1952, một nhà nghiên cứu Nhật Bàn khác (Sơn Bản Dục Hoàng) đã tiến hành nghiên cứu tác dụng của tinh dấu nhân trần Trung Quốc trên một số động vật đã phát hiện rằng đối với động vật không xương sống thì tác dụng gảy mê (ví dụ đối với giun đất, giun lợn, giun người): Thí nghiệm trên giun đất, ếch, giun lợn thì thấy với liều nhỏ có tác dụng kích thích cơ vận, làm cho tăng hiện tượng co rút, nhưng với liều cao lại có tác dụng ức chế và gãy mềm dãn, đối với ruột ếch và mẩu ruột thỏ cô lập lúc đẩu thấy có tác dụng ức chết nhu động, nếu tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì thấy huyết áp hạ thấp: Với liều nhỏ làm biên độ hô hấp tăng cao, nhưng với liều cao thì lại làm đình chỉ hô hấp mà chết.

Năm 1956, Khổng Thế Tích (Trung Hoa y học lạp chí, 10) đã báo cáo thí nghiệm tác dụng của dung dịch 20% nhân ưần trong cồn 70° cho thỏ uống với liều lOmg trên Ikg thể trọng thì thẩy nhân trần có (ác dụng hạ sốt rõ rệt đối với thỏ đã gây sốt do tiêm vi trùng thương hàn,tuy nhiên cùng với liều lượng đó mà dưới dạng thuốc sác thì tác dụng rất yếu.

Năm 1947, Từ Tấn (Nông báo, 1) đã nghiên cứu tác dụng diệt trùng của 400 vị thuốc Trung Quốc dã phát hiện nhân ứần có tác dụng ức chế khá mạnh đối với vi trùng tụ cầu khuẩn (Sataphyllococ). Năm 1956, (Dược học tạp chí, 76 (4): 397- 400) một sô’ nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chứng minh tác dụng ức chế cùa nhân trần đõi vái một số khuẩn gây bệnh ngoài da, tác dụng này không giảm dù vị thuốc được xừ lý tròn 100UC.

E. Công dụng và liều dùng

Mặc dầu cây rất khác nhau, nhưng nguồn gốc sừ dụng nhân trần dựa vào kinh nghiệm ghi trong sách cổ. Theo tài liệu cổ nhản trần vị đắng, tính bình, hơi hàn vào kinh bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, dùng chữa thân thể nóng, da vàng người vàng, tiểu tiện không tốt.

Trong nhân dán, nhàn trần thường dùng cho phụ nữ sau khi sanh nở để giúp cho ăn ngon cơm, chóng hổi phục cơ thể. Còn dùng làm thuốc chữa sốt, ra mồ hôi, thông tiểu tiện, chữa bệnh vàng da, bệnh gan. Trong thú y, người ta dùng bổ bồ chữa bệnh trâu bò ỉa cứt trắng. Ngày dùng 4 đẽn 6g, có khi tới 20g dưới hình thức thuốc sắc, xirô, thuốc pha hay thuốc viên. Nén nghiên cứu tác dụng so sánh của 3 vị thuốc nhất là 2 vị thuốc của nước ta.

Đơn thuốc có nhân trần

Chữa sốt vâng da, ra mồ hôi ở đầu mà người khống có mồ hôi, miệng khô, tiểu tiện khó khăn, bụng đầy:

Nhàn trần cao thang: Nhân trần Trung Quốc 24g, chi từ (dành dành) 12g, đại hoàng 4g, nước 800ml, sắc còn 250ml chia 3 lần uống trong ngày.

Trong đơn này ờ Việt Nam ta thường thay nhân trấn Trung Quốc bằng nhân trần Việt Nam hay bồ bồ.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Nhân trần”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin