Enter your keyword

Sài hồ bắc

420,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Sài hồ bắc hay còn gọi là sài hồ, sà diệp sài hồ, trúc diệp sài hồ.

Tên khoa học Bupleurum sinense DC.

Thuộc họ Hoa tán Apiaceae (UmbeUiferae). Sài hồ (Radix Bupleuri) là rễ phơi hay sấy khô của cây sài hồ Bupleurum sinense DC. và một số cây khác cùng chi cùng họ.

Tại Việt Nam hiện nay một số nơi dùng một loại cúc tần làm sài hô, cấn chú ý tránh nhầm lẫn (xem chú thích). Sài là củi. Cây non thì ăn, già thì làm củi do đó có tên này.

A. Mô tả cây

Sài hồ là một cây sống lâu năm, cao 45-70cm, rễ nhỏ, hình trụ, phân nhánh hoặc không phân nhánh. Thân mọc thẳng, phân cành hình chũ chi.

Lá mọc cách, mép nguyên, hình mác, dài 3-6cm, rộng 6-13mm, đầu lá nhọn, có 7-9 đ-ờng gân song song. Lá phía dưới có cuống ngắn, phía trên không có cuống.

Cụm hoa hình tán kép, mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành. Trục cụm hoa chung, nhỏ và dài, có từ 4-10 cụm hoa phụ không dài bằng nhau. Hoa nhỏ màu vàng.

Quả hình bầu dục, dài độ 5mm, nh-ng góc quả rất rõ, 3 ống tinh dẳu nằm ở mặt tiếp giáp.

Các vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Bạch truật
  2. Thương truật
  3. Đương quy
  4. Ích trí nhân

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện chưa thấy mọc ở Việt nam; tại Trung Quốc mọc ở Nội Mông, Hà Bắc, Sơn Tây, Tứ Xuyên.

Mùa thu hay mùa xuân đều thu hoạch được, đào lấy rễ về rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô là đ-ợc.

C. Thành phần hoá học

Trong sài hổ có chừng 0,50% chất saponin, một chất rượu gọi là bupleurumola C37H640 2 độ chảy 163-164°C, phytosterola CjgH^O, và một ít tinh dầu. Trong thân và lá có chứa rutin V A

D. Tác dụng dược lý

Sài hổ đã được nghiên cứu về mặt dược lý. Chủ yếu có hai tác dụng:

1. Tác dụng chữa sốt Năm 1928, theo nhà nghiên cứu Nhật Bản là Cận Đãng Đông Nhất Bộ báo cáo đã dùng phương pháp kích thích bằng nhiệt để gày sốt cho thỏ rồi cho thỏ uống n-ớc sác sài hổ 20%, cứ lkg trọng lượng cho uống 25ml.

Sau khi uống thuốc 1 giờ đến 1 giờ rưỡi thì nhiệt dộ hạ xuống bình thường hoặc dưới bình thường, sau đó lại tăng tới nhiệt độ bình thường.

Năm 1935, Mã Văn Thiên báo cáo đã dùng dung dịch 0,03% trực trùng côli tiêm vào tĩnh mạch thỏ với liều 2ml cho lkg trọng lượng để gây cho thò sốt, sau đó tiêm dưới da dung dịch 5% cao rượu sài hổ trong nước (Iml tương đương với l,lg sài hồ) thì thấy với liều 0,5ml trên 1kg thể trọng thì không thấy tác dụng chữa sốt; với liều 2ml cho lkg thể trọng thì hơi có tác dụng giảm sốt, nhưng nhiệt độ không hạ tới mức bình th-ờng; với liều 2,2ml trên lkg thể trọng thì có tác dụng hạ sốt rõ rệt.

Độc tính của sài hồ rắt thấp, dùng dung dịch nước 10% sài hồ tiêm dưới da chuột nhắt thì thấy liều tối thiểu gây chết đối với chuột nhắt là l,lm l trên lOg thể trọng.

Năm 1935, Kình Lợi Bân và Lý Đãng Bản cũng đã tiến hành thí nghiệm như trên, tiêm dưới da dung dịch 0,03% trực trùng côlì với liều 2,3ml trên lkg thể trọng đồng thời tiêm dưới da 4ml dung dịch nước của rượu sài hổ (mỗi mililỉt tương đương với l,lg sài hồ) thì thấy có thể cản trở không cho vi trùng gây sốt đổi với thỏ.

2, Tác dụng chữa sốt rét: Theo Chu Mộc Triều và Hoàng Đăng Vân (1940), thì hàng ngày uống 40g thuốc sắc sài hồ có thể chữa sốt rét rất tốt.

D. Công dụng và liều dùng

Sài hồ là một vị thuốc chữa sốt dùng trong đông y. Còn dùng chữa sốt rét, nhức đầu chóng mạt, sốt thương hàn, kinh nguyệt không đều. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác. Ngày dùng trung bình 4-10g. Có thể tăng giảm tuỳ theo tình hình bệnh tật cụ thể.

Theo tài liệu cổ sài hồ vị đắng, tính hơi hàn, vào 4 kinh can, đởm, tâm bào và tam tiêu. Có tác dụng phát biểu, hoà lý, thoái nhiệt, thăng dương, giải uất, điều kinh. Dùng chữa bệnh thiểu dương, hàn nhiột vãng lai (khi nóng, khi lạnh) miệng đắng, tai ù, hoa mắt, đầu váng, nôn mửa, sốt rét, kinh nguyệt khồng đều.

Đơn thuốc có sài hồ

Chữa sốt, hư lao phát sốt, tinh thần mệt mỏi: Tiểu sài hổ thang (bài thuớc thông dụng trong đông y do Trương Trọng Cảnh dùng đẩu tiên): Sài hồ 15g nhân sâm 4g, sinh khương 4g, bán hạ 7g, nước 600ml sắc, còn 300ml. Chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa hư lao phát sốt, cảm mạo phát sất: Sài hổ 160g, cam thảo 40g. Hai vị tán nhỏ, mỗi ngày dùng 8g bột này , sắc với 1 bát nước.

Chú thích:

Tại Trung Quốc, ngưòi ta dùng các vị sau đây với tẽn sài hổ.

1. Nam sài hồ là rễ phơi khô của cây Bupleurum sachalinense Fr. Schmid hay cây B.falcatum L. var. scozoneraefolium Willd.

2. Ngán sài hổ là rễ phơi khô của cây ngân sài hồ Stellaria dichotoma L. var. lanceolata Bunge (Steỉlaria dichotoma L. var. heterophylla Fenzl.) thuộc họ cẩm chướng Caryophyllaceae. Tại Việt Nam khống rõ nguyên nhân từ dâu, người ta dùng rễ phơi khô của cây gần giống cây cúc tẩn, Pluchea pteropoda Hemsl. thuộc họ Cúc Asteraceae (Composttae).

Có người lại dùng rễ cây cúc tần Pluchea indica Less, cùng họ làm vị sài hồ.

Sài hồ Việt Nam là một loại cỏ sống lâu năm, thân mẫm chắc, cao 30-40cm, có thể cao tới 70cm, mang nhiều cành ờ phía trên. Lá mọc cách, hình thìa, phía cuống hẹp lại, mép có răng cưa, lá dày, vò có mùi thơm, mặt trèn xanh hơn mặt dưới, dài 3-5cm, rộng l,5-2,5cm.

Cụm hoa hình đầu, màu đỏ nhạt, gần như không cuống, họp thành 2-4 ngù.

Lá bắc rất nhẵn, hình bầu dục, lá bắc phía trong hẹp hơn. Quả bế có 10 ‘cạnh, có mào lông. Cây sài hồ Việt nam mọc hoang tại miền nước mặn nhu Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Nính Bình (vùng chợ Cồn đi Hải Triều).

Trong rễ cây sài hồ Việt nam có tinh dầu, các chất khác chưa rõ. Nhân dân dùng vị sài hồ này chữa sốt thay cho sài hồ bắc.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Sài hồ bắc”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin