Enter your keyword

Sinh địa

230,000

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

Sinh địa hay còn gọi là địa hoàng, thục địa. Libosch (Digitalis glutinosa Gaertn).

Tên khoa học Rehmannia glutinosa (Gaertn.)

Thuộc họ Hoa mõm chó Scrophulariaceơe

Sinh địa (Rhiioma Rehmanniae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây địa hoàng hay cày sinh địa.

Thục địa là sinh địa đem chế biến theo một phương pháp riêng (thục là nấu, chín).

A. Mô tả cây

Cây sinh địa là một cây thuộc thảo, cao độ 10- 30cm. Toàn cây có lông mềm và lỏng bài tiết màu tro trắng. Thân rể mầm thành củ, lúc đầu mọc thảng, sau mọc ngang, đường kính từ 0,4 đến 2-3cm.

Lá mọc vòng ở gốc, ít khi thấy ở thân, phiến lá hình trứng ngược, dài 3-15cm, rộng l,5-6cm, đẩu lá hơi tròn, phía cuống hẹp lại, mép lá có răng cưa mấp mô không đều, phiến lá có nhiều gân nổi ở mặt dưới chia lá thành những múi nhỏ.

Mùa hạ nờ hoa màu tím đỏ mọc thành chùm ờ đầu cành. Đài và tràng đều hình chuông, tràng hơi cong, dài 3-4cm, mặt ngoài tím sẫm, mặt trong hơi vàng với những đốm tím, 4 nhị với 2 nhị lớn (Hình 642, Hm 36,2). Ờ Việt Nam ta chưa thấy có quả.

Tại Trung Quốc mùa hoa là tháng 4-5, mùa quả tháng 5-6. Neoài cây sinh địa kể trên, thị trường Trung Quốc còn dùng một loại sinh địa nữa: Rehmannia lutea Maxim. var. purpurea Makino

Sinh địa trước đây hoàn toàn phải nhập từTrung Quốc và Triều Tièn.

Từ năm 1958, chúng ta đã di thực thành công cây sinh địa. Hiện nay đang phát triển ờ khắp các địa phương. Qua kinh nghiệm trồng mấy nãm gần đây, tinh nào cũng có thể trổng sinh địa, miễn là nhiệt độ không dưới +3“ trong nhiều ngày.

Đối với các tỉnh mien núi cao hay nơi lạnh nhiều, mỗi năm chỉ có thể trồng được một vụ (giống như nhiều tỉnh Trung Quoc): Vào cuối xuân (tháng 3, tháng 4 dương lịch) thì trồng và thu hoạch vào tháng 8-9. Nếu trổng vào mùa thu, cây khổng phát triến được vào mùa lạnh.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Đảng sâm
  2. Nhân sâm
  3. Bạch quả

Đối VỚI các tỉnh miền trung du và đồng bằng mỗi năm có thổ trồng hai vụ: Một vụ trồng vào tháng 1-2, thu hoạch vào tháng 7-8, một vụ trồng vào tháng 7-8 và thu hoạch vào tháng 2-3.

Thực tế còn có thể trồng vào những tháng khác nữa. nhưng 2 vụ trên đem lại năng suất cao nhất. Trổng bằng thân rễ, mỗi mẩu dài l-2cm. cắt xong đem trồníĩ ngay hoặc ủ ở vườn ươm đên khi nảy mẩm mới đem trồng, mỗi hố cách nhau 10-15cm. Đất trồng cán loại đất tơi, xốp như đất phù sa, đất trổng màu. Phủn bón tốt nhất là tro bếp, phân kali. Khi cây có hoa, cần ngắt hoa đi để củ được to và tốt. Sau khi trổng 6 tháng rưỡi có thể thu hoạch.

Nâng suất 1 hecta cho từ 3 đến 7 tấn, tuỳ thec vụ trồng và cách chăm sóc.

Cu sinh địa hái vể có thể bảo quản trong cái ẩm gọi là sinh địa tươi hay sinh địa hoàng tươi có màu vàng đò trông như CÌ1 khoai nghệ. Nếu rửa sạch, sấy khó hoặc phơi khô (nên ái dụng sấy tốt hơn) ta sẽ được vị sinh địa khô ha’ sinh địa. Thục địa hay thục địa hoàng là sinh địa ch biến một cách đặc biệt.

Cách chế biến thay đổ tuỳ theo địa phương và tuỳ theo người chế biế chưa thống nhất. Sau đày là một phương phá giới thiệu trong các tài liệu cùa Trung Quốc. “Chọn các củ sinh địa to, ngâm nước, cạ sạch đất, lấy sinh địa vụn nát nấu lấy nước, nước đó tẩm sinh địa xong rồi đem đồ, đồ xong lại phơi, phơi khổ lại tẩm. Tẩm vả đồ như vậy 9 lẩn (gọi là cửu chưng cửu sái, chưng=đồ, sái=phơi=9 lần đồ, 9 lần phơi) khi màu thục đen nhánh là được”. Khi nấu cần chú ý dùng đồ sành, tránh dùng đổ đồng vì theo sách cổ, nếu dùng đổ đổng để nấu nam giới uống sẽ bại thận, tóc bạc, phụ nữ dùng sẽ tổn huyết.

– Theo Lý Thời Trân (trong Bàn thảo cương mục) nén tán sa nhân với rượu mà nấu thì thục địa sẽ tốt, vì địa hoàng tính rất trệ, sa nhàn nhẹ và thơm sẽ điều hoà được ngũ tạng.

– Có tác giả khác lại cho rằng không cần chế thành thục địa vì thời Trương Trọng Cảnh (một danh y Trung Quốc thời cổ) người ta không chế thục địa, mà chỉ dùng sinh địa. ở nước ta, có nơi chế thục dịa như sau: “Cho sinh địa vào thùng (sức chứa cả nước lản củ độ 100kg): Củ to xuống dưới cũ nhỡ ở giữa, nhỏ lên trên. Cứ 80kg sinh địa, cho 10 lít rượu 40°. Đun lừa lớn cho đến khi sôi. Khi đã sôi, cho nhỏ lửa. Giữ như vậy 6-8 giờ cho đến khi cạn nước.

Trong thời gian đun, cách 1 giờ lại múc nước ờ dưới nỏi tưới lên củ cho thấm dều. Sau đó lấy ra phơi. Sau 3 ngày phơi lại đem nấu lần thứ hai, nhưng thèm 2kg gừng giã nhỏ, cho vào nước khuấy đều, lọc lấy nước. Sau đó vớt ra phơi, rồi lại nấu, làm như vậy 5-7 lần đến khi màu thục đen nhánh là được. Do cách chế biến khác cho nên sinh địa và thục địa có tính chất khác nhau. Vì thục địa có thèm tác dụng của sa nhân, hay gừng và vì nấu lâu, các chất ở trong có thể thay đổi.

C. Thành phần hoá học

Trong sinh địa, các nhà nghiên cứu Nhật Bàn (1928) và Triều Tiên (1932) đã lấy ra được các chất manit C6Hs(OH)6, rehmanin là một glucozit, glucoza và một ít caroten. Gần đây có tác giả (Trung Quốc) cho ràng trong sinh địa có ancaloit. Chất manit có tinh thể không màu, hơi ngọt dễ tan trong nước, hơi tan trong cổn, không tan trong éte, độ chảy 165-166°c, tỷ trọng 1,52, nhiệt độ sẽ làm cho manit chuyển thành manitan C6H120 5 và manid C6H10O4- Năm 1971, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nghiên cứu vị sinh địa Hoài Khánh (Rehmannia glutinosa Libosch forma hueichingensis Hsìao) đã chiết được những chát như sau:

– Từ dịch chiết bằng mentanol cô cạn rồi pha loãng bằng nước và chiết lại bằng butanol. Bốc hơi butanol rồi lắc với ête để loại tạp chất. Phần còn lại cỊjo sắc ký khí qua cột dùng chất hấp thụ là than hoạt: selit (1:1), khai triển bằng dung mòi nước và cồn tăng dẩn. Trong phẩn phân đoạn cồn 5-10% có chất catalpol, một iridoit glucozit có độ chảy 207-209°C, cr2^ =122“, hàm lượng 0,11% trong cù tươi. – Từ dịch chiết nước đã xác định được những thành phán sau đây: 15 axit amin và Dglucozamin (trong phân đoạn kiềm), axit photphoric (trong phân đoạn axit), phần chính còn lại (trong phân đoạn trung tính) là các cacbohydrat: D-glucoza, D-galactoza, D-fructoza, sucroza, raffinosa, mannotrioza, stachioza, vesbascoza, và D-mannitol. Chủ yếu là stachyoza với hàm lượng 48,3% (so với dược liệu khò).

– Trong sinh đ ịa tía (Rehmannia glutinosa var. purpurea) th ì th à n h p h ầ n c h ù yếu trong p h â n đoạn trung tính vẫn là stachyoza, còn trong p hàn đoạn kiềm là acginin với 4,2%, trong phân đoạn a x it là ax it Y -am inobutyric với 3%. Catalpol có tác dụng hạ thấp đường huyết trên súc vật thí nghiêm. Ngoài ra còn có tác dụng lợi tiểu và tẩy nhẹ.

D. Tác dụng dược lý

1. Tác dụng đối với huyết đường; – Nãm 1930, Mẫn Binh Kỳ (Nhật Bản) đã báo cáo sinh địa có tác dụng hạ huyết đường, sắc nước sinh địa cho thỏ uống không có hiên tượng huyết đường tăng, lúc đầu thấy có tác dụng ức chế, tác dụng ức chế này rất mạnh.

– Trong cồn ngâm sinh địa có chứa chất rehmanin có lẽ đó là thành phần gây hạ huyết đường. Năm 1932 Kim Hạ Thực (Nhật Bản) đã tiêm dưới da cho thỏ, chất rehmanin với liều 0,5g/lkg thổ trọng rồi theo dõi ảnh hường đối với huyết đường thì thấy sau 30 phút lượng huyết đường giảm xuống, 4 giờ sau lượng huyết hạ thấp nhất, rồi dần dần trở lại bình thường, 7 giờ sau khi tiêm, lượng huyết trở lại mức bình thường. Nhưng chưa rỏ rehmanin có tác dụng ức chế đối với huyết đường tăng cao do adrenalin hay khồng, chỉ mới thấy có tác dụng ức chế đối với lượng natri clorua. Năm 1935, Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao báo cáo: Dùng cồn 70° chiết suất sinh địa rồi chế thành cao lỏng (lml tương đương lg sinh địa) tiêm vào dưới da thì với liều 2ml/lkg thể trọng và cho uống với liều 4ml/lkg thể trọng, rồi cứ cách 1 giờ lại định lượng huyết đường một lần (định lượng theo phương pháp Deniges), tiến hành tất cả 5 lần định lượng. Kết quả là tiêm thuốc dưới da làm cho lượng huyết đường giảm xuống; 4 giờ sau khi tiêm, lượng đường xuống rõ nhất, sau đó trờ lại bình thường, uống sinh địa cũng làm lượng đường giảm xuống nhưng không bằng tiêm. Các ỏng còn dùng nước sắc đảng sâm (xem vị này) với liều 4ml/lkg thể trọng rồi lại tiêm dung dịch sinh địa 2ml/lkg thể trọng, thì thấy sinh địa có khả nâng ức chế khả nâng của các hợp chất cacbon hydrat, làm kéo dài sự tăng lượng huyết đường.

Năm 1945, Georges Gabriel R. và đồng sự đã báo cáo dùng cồn 80″ chiết suất sinh địa và chế thành cao (Iml tương đương 2g sinh địa), loại các hợp chất có đường đi rồi tiến hành thí nghiệm trên thỏ để theo dõi ảnh hường đối với huyết đường. Kết quả 10ml cao sinh địa tiêm vào bắp thịt thỏ có thể hạ 2/3 huyết đường do adrenalin gây ra, tièm cao sinh địa trước khi tiêm adrenalin thì có thê đề phòng hiện tượng huyết đường quá cao. Tiêm 20ml cao sinh địa vào bắp thịt một con chó nặng 4,5kg có thể hạ thấp lượng huyết đường do tiêm 20ml dung dịch 25% glucoza đưa đến huyết đường quá cao, nếu cho uổng cũng có kết quả. Các ông cũng đã nêu lèn rằng hoạt chất gây hạ huyết đường trong sinh địa là một chỉt tan trong nước, trung tính màu vàng nhạt giống như dầu, có thể có chứa sunfua và nitơ

2. Tác dụng đối với huyết quản: Năm 1936 Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao đã báo cáo: Sinh địa ngoài tác dụng làm hạ huyết đường, còn có tác dụng đối với mạch máu ờ tim. Các ông đã dùng dung dịch 0,1-0,5% cao sinh địa trong nước Locke Ringer trên tim ếch cồ lập thấy rằng liều nhỏ không có tác dụng rõ rệt, liều trung bình có tác dụng mạnh tim, tim càng yếu, tác dụng càng rõ rệt, liều cao có thể làm cho tâm thít ngừng co bóp. Tiêm nước sinh địa vào tĩnh mạch thỏ hoặc chó đã gây mê, có thể làm tâng huyết áp, nhưng nếu tiêm vào tĩnh mạch chó gây mê đã cắt bỏ não, huyết áp không tăng, do đó các ông đã kết luận là nguồn gốc tăng huyết áp là do trung khu thần kinh. Nếu pha cao sinh địa trong dịch Locke-Ringer rồi dùng phương pháp Trendelenberg cho vào mạch máu thì thấy liều nhỏ làm co mạch, liều lớn làm dăn mạch.

3. Tác dụng lợi tiểu: Nãm 1936, hai ông Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao theo phương pháp đếm sô’ giọt nước tiểu của chó gây mê bằng cloral hydrat được tiêm thuốc sinh địa vào tĩnh mạch thì thấy lượng nước tiểu tãng lên, do đó kết luận sinh địa có tác dụng lợi tiểu.

4. Tác dụng cầm máu: Năm 1939, một tác giả Nhật Bản đã dùng cồn chiết suất được tinh thể màu vàng hình trám, thí nghiệm tìm ảnh hường đới với thời gian đông máu, thấy có khả nãng rút ngắn thời gian đông máu của thỏ và kết luận địa hoàng có tác dụng cầm máu. 5. Tác dụng đối với vi trùng: Năm 1952, Đặng Vũ Phi (Trung Quốc) đã báo cáo sinh địa có tác dụng ức chế sự sinh trưởng kén một số vi trùng.

E. Công dụng và liều dùng

Do tác dụng ức chế huyết đường, lợi tiểu và mạnh tim, sinh địa được dùng trong bệnh đường tiện (đi đái đường), thiếu máu, suy nhược, khuynh hướng chảy máu. Liều dùng: Ngày uống 9-15g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc cao. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Theo kinh nghiệm cổ, sinh địa và thục địa dểu là thẩn dược (thuốc quý rất tốt) dể chữa bênh về huyết, nhưng sinh địa thì mát huyết, người nào huyết nhiệt nên dùng, thục dịa ôn và bổ thân, người nào huyết suy thì nên dùng. Hoặc có tài liệu nói: “Năng lực của sinh địa là bổ chân àm, lương nhiệt huyết, là vị thuốc bổ dương, cường tráng”. Còn thục địa bổ tinh tuỷ, nuôi can thận, sáng tai mắt, đen râu tóc là thuốc tư dưỡng, cường tráng, những người lao thần khổ trí lo nghĩ hại huyết, túng dục hao tinh nên dùng thục địa. Những người tỳ vị hư hàn không nên dùng. Theo tài liệu cổ, sinh địa có vị ngọt, đắng, tính hàn, vào 4 kinh tăm, can, thận và tiểu trường. Sinh địa có tác dụng thanh nhiệt, mát máu (khô có tác dụng tư am, dưỡng huyết), dùng chữa thương hàn ôn bênh, yết hầu sưng đau, huyết nhiệt tân dịch khô kiệt, thổ huyết, băng huyết, kinh nguyệt không đều, dộng thai. Thục địa vị ngọt, tính hơi ôn, vào 3 kinh tâm, can và thận. Có tác dụng nuôi thận, dưỡng àm bổ thận, làm đen râu tóc, chữa huyết hư, kinh nguyệt không đều, tiêu khát, âm hư ho, suyễn. Các đơn thuốc bổ có sinh địa và thục địa

1. Bài thuốc lục vị địa hoàng hoàn chữa đau đáu, chóng mặt, cổ khỏ đau, miệng lưỡi lờ loét, tai ù, răng lung lay, lưng đau gối mòi, di tinh, mộng tinh, mồ hôi trộm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, trẻ con gầy yếu. Bài thuốc: Thục địa 320g (8 lạng), sơn thù du, sơn dược hay hoài sơn mỗi vị 160g (4 lạng), mẫu đơn-bì, bạch phục linh, trạch tả mồi vị 120g (3 lạng). Nãm vị sau sấy khỏ tán nhò, giã thuc địa cho that mẻm nhũn, trộn dcu, thêm mật ong viên thành viên bằng hạt ngó. Ngày uống 20-30 viên (8-12g), chia hai lân uổng trong 15 phút trước khi ăn cơm.

2. Bài thuốc Kinh ngọc cao (bài thuốc bổ cùa Chu Đan Khê) dùng ưị ho khan, bệnh lao. Sinh địa 2.400g (4 cân ta), bạch phục linh 480g (12 lạng ta), nhàn sâm 240g (6 lạng), mật ong.ưắng 1.200g (2 cân ta). Giã sinh địa vát lây nước, thêm mât ong vào, nấu sôi, thêm bạch phục linh và nhản sâm đã lán nhỏ. cho vào lọ, đây kín, đun cách thuỷ 3 ngày 3 đêm, để nguội. Mồi lần uống 1-2 thìa, ngày uống 2-3 lần.

3. Bải thuốc hoàng líén viên (theo sách Thiên Kim Phương) chữa gầy yếu có thể trị đường niệu (đái đường). Sinh địa 800g, hoàng liên 600g. Giã sinh địa vắt lấy nước, tẩm vào hoàng liên, lấy hoàng liên phơi khò rồi tẩm, cứ như vậy cho đến hết nước sinh địa. Tán nhỏ hoàng liên. Thêm mật vào viên thành viên bằng hạt ngỏ. Mỗi lần uống 20 viên, mõi ngày uống 2-3 lần.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Sinh địa”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin