Enter your keyword

Sơn tra

320,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 4 vote[s]

Sơn tra hay còn gọi là bắc sơn tra, nam sơn tra, dã sơn tra, aubepine.

Tên khoa học Crataegus pinnatifida Bunge (bắc sơn tra, sơn tra), Crataegus cuneata Sieb.et Zucc. (nam sơn tra, dã sơn tra).

Thuộc họ Hoa hồng Rosaceae. Sơn tra (Fructus Crataegi) là quả chín thái móng phơi hay sấy khổ của cây bắc hay nam sơn tra.

A. Mô tả cây

Bắc sơn tra (Crataegus pinrtatifida) là một cây cao 6m, cành nhỏ thường có gai. Lá dài 5-]0cm rộng 4-7cm, có 3-5 thùy, mép có răng cưa, mặt dưới dọc theo các gán có lông mịn, cuống lá dài 2-6cm. Hoa mẫu 5, họp thành tán.

Đài có lông mịn, cánh hoa màu tráng, 20 nhị. Quả hình cầu, đường kính l-l,5cm, khi chúi có màu đỏ thắm.

Cây nam sơn tra hay dã sơn tra (Crataegus cuneata) cao I5m, có gai nhỏ 5-8mm. Lá dài 2-6 cm, rộng 1 -4,5 cm, có 3-7 thùy, mặt dưới lúc đầu có lóng, sau nhẵn. Hoa mẫu 5, họp thành tán. Cánh hoa trắng, 20 nhị. Quả hình cẩu đường kính 1-1,2 cm, chín có màu vàng hay đỏ.

Ở Việt Nam hiện nay đang khai thác với tên sơn tra hay chua chát, quà cùa hai loài cây khác nhau: Cây chua chát, còn gọi là sán sá (Tày) có tên khoa học Malus doumeri (Bois) Chev. hay Docynia doumeri (Bois) Schneid. thuộc họ Hoa hổng (Rosaceae).

Cây này cao 10-15m, củy non có gai. Lá nguyên hình bầu dục dài 6-15cm, rộng 3-6cm, mép khía răng cưa. Hoa họp thành tán từ 3-5 hoa. Hoa mảu 5, cánh màu trăng.

Quả tròn hơi dẹt, khi chín ngả màu vàng lục, đường kính 5-6cm, cao 4-5 cm, vị chua hơi chát. Mùa hoa tháng 1-2, mùa quả tháng 9-10. cây này thường được khai thác ở Cao Bằng, Lạng Sơn.

Nhân dân ở đây cũng bán sang Trung Quốc với tên sơn tra.  Cây táo mèo, còn gọi là chi tô di (Mèo) có tên khoa học Docynìa ìndica (Mall.) Dec. cùng thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).

Cây nhỡ cao 5-6m, cây non cành có gai. Lá đa dạng, ờ cây non lá mọc so le, xẻ 3-5 thùy, mép có răng cưa không đều. Ở thời kỳ cây trường thành lá hình bầu dục dài 6-10cm, rộng 2-4 cm, mép nguyên hoặc hơi khía răng. Hoa họp từ 1-3 hoa, mẫu 5, cánh hoa màu trắng. Nhị 30-50.

Quả hình cầu thuôn, đường kính 3-4cm, khi chín màu vàng lục, có vị chua hơi chát. Mùa hoa tháng 3, mùa quả tháng 9-10. Táo mèo mọc hoang và được trỏng ở Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai độ cao trên 1 .OOOm.

Ngoài ra còn cây Docynia delavayi (Franch.) Schneid mùa hoa tháng 3, quả tháng 6-7. Lá cây này cứng hơn cây trên, mặt dưới lá có lông cũng dày hơn. Quả cũng tương tự nhưng có cuống dài hơn. Cũng được thu mua với tên táo mèo hay sơn ưa.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Đỗ trọng
  2. Câu đằng
  3. Hoa hoè
  4. Cỏ nhọ nồi

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Trước đây sơn tra hoàn toàn nhập của Trung Quốc. Những nãm gần đây ta đã thu mua táo mèo và chua chát dùng với tên sơn tra. Như chúng ta thấy hai cảy này đều khác chi sơn tra thật (Crataegus) do đó cần nghiên cứu so sánh việc sử dụng.

Điều chú ý là một số tỉnh Hoa Nam Trung Quổc cũng nhập của ta những quà này với tên sơn tra. Nói chung quả chua chát và táo mèo của ta có đường kính lớn hơn sơn tra, khi chín sơn ưa thật màu đỏ mận hay đỏ tươi.

Quả sơn ưa hay chua chát, táo mèo chín được hái về. thái ngang hay bổ dọc, phơi hay sây khô.

C. Thành phần hóa học

Theo sự nghiên cứu sơn tra Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thấy có axit xitric, axit tacưic, vitamin c, thấy hydrat cacbon và prôtit (Dược tài học, 1960). Năm 1957, Viện nghiên cứu thực phẩm ct Trung Quốc phàn tích sơn tra thấy prôtit 0,7%; ch béo 0,2%; hydrat cacbon 22%; canxi 0,0859 photpho 0,025%; sắt 0,0021%; caroten 0,000829 vitamin c 0,089%. Sơ bộ nghiên cứu loại sơn tra Việt Nam (Lào Cai, Hoàng Liên Sơn) thấy có 2,76% tanin, 16,4% ch đường, 2,7% axit hữu cư (tactric, xitric tính th< h 2so 4). Các chất tan trong nước (cao khô) là 31 %, độ t 2,25% tan hoàn toàn trong HC1 (Lẽ Ánh, Bộ nn dược liệu, 1961). Theo sự nghiên cứu của các nhà dược học Li< Xô cũ về quả sơn tra loài Crataegus oxyacantha và Crataegus sanguina Pali, ngoài chất tani fructoza còn có các chất cholin, axetylcholìn phytosterin.

Mới đây người ta lại còn thây các a hữu cơ thuộc loại tritecpen như axit oleanic, urso và crataegic. Trong hoa các loại sơn tra kể trên, có quexet quexitrin, tinh dầu và một số chất khác.

Trong cây Crataegus oxyacantlm người ta còn thấy 2 cl đáng crataegin và oxyacanthin.

D. Tác dụng dược lý

1. Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu về quả sơn tra Việt Nam và Trung Quốc.

2. Quả sơn tra của Liên Xô cũ được pỏtguôexki B. B. (1951) và Checnưxep (1954) nghiên cứu thấy chế phẩm của sơn tra làm tăng sự co bóp của cơ tim đồng thời làm giảm sự kích thích cơ tim. Sơn ưa còn làm tâng sự tuần hoàn ở mạch máu tim và mạch máu ở não, tăng độ nhậy của tim đôì với tác dụng của các glucozit chữa tim (Tạp chí dược lý và độc học Liên Xô, 1951 và Tạp chí y học Liên Xô, 1954).

3. Hoa và lá sơn tra Crataegus oxyacantha được nhân dân và y học châu Ầu dùng từ lâu làm thuốc chữa tim, trong thí nghiệm và ưên lâm sàng, thuốc chế từ hoa và lá Crataegus oxyacantha làm mạnh tim, điều hòa sự tuần hoàn, giảm sự kích thích của thần kinh.

D. Công dụng và liều dùng

Hiện nay đông y và tây y dùng sơn tra với hai mục đích khác nhau. Tây y coi sơn tra (hoa, quả, lá) là một vị thuốc chù yếu tác dụng trên tuần hoàn (tim và mạch máu) và giảm đau, an thần. Đông y lại coi sơn tra là một vị thuỗc chù yếu tác dụng trên bộ máy tiêu hóa.

Theo tài liệu cổ, sơn tra có vị chua, ngọt, tính ôn vào 3 kinh tỳ vị và can,, tiêu được các thứ thịt tích ưong bụng.

Tuy nhiên trong các tài liệu cổ, ghi về sơn tra còn nói thêm là sơn ưa phá được khí, hành ứ (?). hóa đờm rãi, giải được độc cá, lờ sơn, chữa tả lỵ, trị tích khối, huyết khối, giảm đau, đồng thời ghi chú rằng: “Ăn nhiểu sơn tra thì hao khí hại răng. những người gầy còm, có chứng hư chớ ăn…”

Liều dùng ưong đỏng y: Ngày uống 3-10g dưới dạng thuóc sắc, uống môt vị hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Túy y dùng dưới dạng cao lỏng (ngày uống 3 đến 4 lần trước bữa ăn, mỗi lần 20 đến 30 giọt) hoặc cồn thuốc (ngày uống 3A lán, mỗi lần 20 đốn 30 giọt) để chữa các bệnh về tim mạch, cao huyết áp và giảm đau.

Đơn thuốc có Sơn tra trong đông y:

1. Đơn thuốc chữa ăn uống không tiêu. Sơn tra lOg, chì thực 6g, ưần bì 5g, hoàng liên 2g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống tomg ngày.

2. Chữa hóc xương cá. Sơn tra 15g, sắc đặc với 200ml nước. Ngậm một lúc láu rồi nuốt đi.

3. Chữa ghe’ lở, lở sơn. Nấu nước sơn ưa mà tắm rửa.

Chú thích:

1. Trước đây ta vẫn nhập sơn ưa của Trung Quốc. Từ năm 1956 về đây, vị sơn tra của ta mới được khai thác để dùng trong nước và xuất khẩu. Cần nghiên cứu lại, do nguồn gốc khác nhau.

2. Tại Trung Quốc người ta dùng nhiều loại sơn tra khác nhau thuộc nhiều loài như Crataegus pinnatựĩda Bunge var. major N. E. Br., Crataegus cuneata Sieb. et Zucc.. Crataegus scabrifolia (Fr.) Rehd., Crataegus Wattiana Hemee et Lace v.v…

Tại châu Âu chủ yếu người ta dùng Crataegus oxyacantha L. hoặc Crataegus sanguinea Pali

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Sơn tra”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *