Enter your keyword

Tắc kè

500,000

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

Tắc kè còn gọi là đại bích hổ, cáp giải, cáp giới.

Tên khoa học G e k k o g e k k o L.

Thuộc họ Tắc kè G e k k o n id a e , bộ Thằn làn (S a u r ia h a y L a c e r tiỉia ) .

Tắc kè-Gekko-là con tắc kè jnổ bỏ ruột phơi hay sấy khô.

A. Mô tả con vật

Con tắc kè giống như con “mối rách” hay “thạch sùng” nhưng to và dài hơn (không nên lầm với con thần lằn). Chiều dài của thân chừng 15-17cm, đuôi dài 15-17cm.

Đầu bẹp hơi 3 cạnh, mất có con ngươi thẳng đứng, 4 chăn, mỗi chân có 5 ngón rời nối với nhau thành hình chân vịt, mặt dưới ngón có những màng phiến mỏng màu trắng sờ như có chất dính làm cho con vật có thể bám chật vào tưcmg hay cành cây khi trèo ngược.

Đầu, lưng và đuôi đều có những vẩy nhỏ hình hạt tròn hoặc nhiều cạnh, nhiều màu sắc từ xanh lá mạ đến xanh rêu đen có khi xanh nhạt hay đò nâu nhạt.

Màu sấc này còn thay đổi tùy theo lúc để cho màu sắc con vật giống cảnh vật xung quanh làm cho con vật lẩn tránh dê dàng khi ờ trên cây. Đuôi tắc kè được coi như một bộ phận quý nhất của con vật. Khi bị gãy hay đứt có thể mọc lại được. Con tắc kè sống ở những hốc cây hốc đá hoặc những khe hốc các nhà gác cao, tường cao. Nó ăn sâu bọ, dán, châu chấu, bướm, nắc nẻ v.v…

Những con vật này phải cử động tắc kè mới trồng thấy. Đến mùa rét nó không ãn mà vẫn sống mạnh khỏe. Tắc kè đẻ trứng. Mỗi lần đẻ 2 trứng. Trung bình sau 90-100 ngày trứng mới nở. Không phải ấp. Mùa đẻ: từ tháng 5 đến tháng 10. Con đực kêu hai tiếng tấc kè, do đó thành tên. Nó kêu luôn một lúc 10-12 lần liền có khi nhiều hơn. Tiếng kèu càng về cuối càng nhỏ dần. Trong sách cổ có nói con đực kẻu “tắc” con cái kêu “kè” nhưng thực tế một con kêu cà hai tiếng “tắc kè”.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. A giao
  2. Lộc nhung
  3. Hải mã
  4. Mẫu lệ

B. Phân bố, cách bắt và chế biến tác kè

Tắc kè sống hoang tại các tỉnh miền thượng du nước ta nhu Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hàng năm ta có thể thu mua và xuất tới 250.000 con (riêng miền Bắc). Miền Nam trung bộ và Nam Bộ cũng có nhiều. Ngoài nước tắc kè có ờ nam Trung Quốc, Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Miến Điện và Đông bắc Ấn Độ. Tác kè thường kêu từ các tháng hè đến hết thu (5-10), vào thời kỳ này người ta tổ chức đi bắt.

Vào mùa khác người ta dựa vào phân tấc kè mà đi tìm nơi chúng ở. Phân tắc kè gổm một thỏi màu nâu to và một cục trắng nhỏ. Muốn bắt tắc kè người ta tìm nơi hang hốc có tiếng kêu hay nơi nó thường đi lại. Người ta làm một que cứng, dẻo làm bằng tre cật, dài chừng lm. Đầu que buộc một mớ tóc rối hay mớ sợi móc.

Khi chọc đầu que này vào hốc, tắc kè ngoạm lấy, tóc. rối vưứng vào răng không mờ ra, ta chì việc kéo ra mà bát lấy. Mỗi hang hốc có thổ bắt 2-10 con, có khi tới 20-30 con. Nếu hang hốc nông, người ta bao tay bằng vải thô rồi thò tay vào mà bát. Đem về mổ bụng bỏ hết ruột, dùng 2 que nứa nhỏ ngắn, một que căng hai chần trước và một que căng hai chân sau. Một que nữa thi xuyên dọc suốt từ đầu đến quá đuôi. Nơi đuôi người ta lấy giấy bản cắt thành dải cuộn chặt vào que để bảo vệ đuòi. Sau đó phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, bỏ mất, chặt bốn bàn chân, sấy khô tán nhỏ hoặc cát nhố ngâm rượu (Hình 718).

C. Nghiên cứu thành phần hóa học

Năm 1958, sơ bộ, chúng tôi nghiên cứu thấy trong đuôi tắc kè có rất nhiều chất béo (23- 25%). Trong toàn thân tỷ lệ chất béo chỉ có 13- 15%. Chất béo có 3,88% chất không xà phòng hóa. Trong châ’t béo có một loại tinh thể đặc biệt. Tuy nhiên, hoạt chất chưa rõ (Đỗ Tất Lợi, 1958). Năm 1962 (F a rm a c ia 5-1963, Rumania), G. Hermann, I. Ciulei, M. Marin, Đỗ Tất Lợi, Elena Hadarag, Emilia Dumitriu và p. Balaci đã nghiên cứu thấy trong toàn thân tắc kè có các axit amin theo thứ tự từ nhiều đến ít như sau: axit glutamic, alanin, glyxin, axit axpartic, acginin, lysin, serin, leuxin, isoleuxin, phenylalanin, valin, prolin, histidin, treonin và xysteín.

D. Tác dụng dược lý

Theo tà i liệ u c ổ tắc kè có tác dụng làm cho đỡ mệt nhọc, vì vậy muốn thừ xem có phải đúng tắc kè hay không, người ta thử như sau: Nướng tắc kè cho vàng, giã nhỏ, ngậm một ít, chạy một quãng đường, khổng thấy thớ mới là thực

Theo Lý Tuân do Lý Thời Trân thuật lại ưong Bản thảo cương mục . Ngoài ra trong các tài liệu cổ còn ghi tắc kè có tác dụng chữa hen, lao phổi và cường dương.

Năm 1962 các tác giả trên (xem phần nghiên cứu hóa học) đã thí nghiệm dược lý và đã đi tới một số kết luận sau đây:

1. Thuốc chế từ tắc kè (rượu sau khi đã bốc hơi để loại rượu) có tác dụng chống vi trùng Gram ầm và Gram dương, nhưng vòng vô khuẩn nhỏ.

2. Thuốc tắc kè không gây hiện tượng dị ứng, dùng chế dưới dạng thuốc tiêm, không gây phàn ứng tại chỗ hay toàn thân.

3. Thuốc tắc kè có tính chất kích thích sự nở lớn.

4. Nghiên cứu tác dụng thuốc tắc kè trên máu, các tác giả thấy thuốc tắc kè làm táng lượng hồng huyết cẩu, tăng huyết sắc tô’ và không ảnh hưởng tới hệ thống bạch cầu.

5. Đối với ruột cồ lập của thỏ, thuốc tắc kè có tác dụng kích thích, làm tăng trương lực (tonus) táng biên độ; tác dụng này rất rõ và kéo dài.

6. Trên tim ếch tại chỗ, tắc kè có tác dụng làm tim chậm lại. Với tài liệu dùng trong thí nghiệm, thuốc tắc kè đă gây hiện tượng chỉ cần sức âm (inotropisme négatií) chính điệu âm (chronotropisme négatií) và cơ dẫn âm (dromotropisme negatif).

7. Tiêm thuốc tắc kè vào mạch máu chó đã gây mê, huyết áp hạ thấp trong 1 -2 phút, sau đó từ từ trờ lại bình thường.

8. Tiêm mạch máu cho chó đã gây mê, với liều 3-5ml, thấy có hiện tượng giảm tiết niệu nhất thòi.

E. Công dụng và liều dùng

Tắc kè là một vị thuốc nhân dân, dùng làm thuốc bổ và chữa ho.

1. Thuốc bổ: Tác dụng ngang như nhân sâm, thịt để dùng tăng cường sinh lý cho những ngưòi giao cấu không được bền bỉ- Thường người ta dùng một đôi con đực và con cái. Nhưng thực tế rất khó phân biệt con đực và con cái, cho nên cứ dùng 2 con một.

2. Chữa các chứng ho có đờm hay không có đờm lâu ngày khống khỏi, khạc ra mủ máu, ho luôn không dứt, hơi nghẽn lên cổ. Bản thân tác giả thường dùng khi trí não một nhọc, thấy chóng tỉnh táo khoan khoái. Hình thức dùng có thể sấy khô tán bột uống riẻng hoặc ưộn với các vị thuốc khác. Cũng có thể ngâm rượu mà uống. Ngày uống 3 đến 4g dưới dạng thuốc bột hay ngâm rượu. Theo tà i liệ u c ổ tấc kè có vị mặn, tính ôn, vào hai kinh phế và thận. Có tác dụng bổ phế thận, ích tinh, trợ dương, chữa hen suyễn. Dùng chữa hư lao, ho có mủ, ho ra máu, hen suyễn, tiêu khát. Người có đòm ẩm hen suyễn không dùng được.

Những đơn thuốc kinh nghiệm có tắc kè:

1. Rượu tắc kè, chữa suy nhược thần kinh, đau ngang thắt lưng: Tắc kè mổ bỏ ruột, sấy khố, cắt bỏ đầu, chân, ngâm với rượu; mỗi một lít rượu 35-40″ ngâm 2 đến 5 con. Ngâm trong một tuần lể trờ lên. Lọc lấy rượu trong mà uống. Ngày uống (15-30ml) chừng nửa cốc con. Uống nguyên hoặc pha với mật ong cho ngọt. Có thể thêm ít trần bì hay vỏ cam vào cho thơm. Uống vào buổi tối hay sáng sớm. Dùng cho những người hay mệt nhọc, đau xương đau người, đau ngang thắt lưng.

2 . Đơn thuốc chữa ho, nặng mặt, nặng chân tay: Tắc kè một đôi, bỏ đầu, chân, lấy rượu bôi khắp lượt rổi nướng chín, nhân sâm 20g (hoặc có thể dùng đảng sâm 40g). C ả hai vị sấy khô tán nhỏ. Cất trong lọ kín án dán. Ngày ăn 4g bột này.

3 . Đơn thuốc chữa bệnh ho lao, già mà ho nhiều đờm, tim yếu: Tắc kè một đôi bỏ đầu, chân, sấy khó tán nhỏ. Đảng sâm 20g, quy bản nướng tán bột 20g, bắc sa nhân 20g tán bột. Tất cả trộn đểu. Thềm vị táo đỏ và giã nát làm thành vìén, mỗi viên nặng lg. Ngày uống 3 lần, mỗi lẩn 1 đẽn 2 viên, nhai và dùng nước mà chiêu thuốc.

 

 

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Tắc kè”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin