Enter your keyword

Tế tân

350,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 7 vote[s]

Tên khoa học Asarum sieboldii Miq.

Thuộc họ Mộc thông Aristolochiaceae.

Tế tân (Herba Asari sieboldi) là toàn cây phơi hay sấy khô của cây tế tân.

Tế lả nhỏ, tán là cay vì vị thuốc có rể nhỏ, vị cay nên gọi là tế tân.

Ngoài cây tế tân nói trên (còn gọi là hoa lể tân) người ta còn dùng một cây khác với tên liêu tế tân (còn gọi là tế sâm) là toàn cây phơi hay sấy khô của cây liêu tê tân-Asarum heterotropoides F. Schum. var. mandshuricum (Maxim.) Kitag. cùng họ.

Vị tế tân hiên còn phải nhập. Gần đây, ta có dùng một cây với tên tế tân nói là di thực của Trung Quốc, nhưng thực tế chưa đúng. Vị sau này có lá mép khía tai bèo còn cây tê’ tân thật có lá mép nguyên.

A. Mô tả cây

Tế tân Asarum sieboldii. Miq. là một loại cỏ nhỏ, cao chừng 12-24cm. Thân rễ dưới đất bò ngang, đầu thân rể có phân nhánh.

Rễ nhiều, nhỏ và dài vê ở tay có mùi thơm. Lá mọc từ rễ, gồm 2-3 lá, có cuống dài 5-18cm, thường là nhẵn hay hơi có lổng, trên có rãnh chạy dọc, phiến lá hình tim dài 4-9cm, rông 6-12cm, đầu nhọn, phía đáy lá hình tim, mép nguyên, mặt dưới lá có nhiều lông mịn, dài.

Hoa mọc đơn độc từ rể lên, cuống dài 3-5cm. Bao hoa chỉ gồm 1 vòng màu nâu đỏ nhạt, phía trên chia thành 3 cánh hình trứng rộng dài lOmm, đầu nhọn. Quả gần hình cầu.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Cốc tinh thảo
  2. Cà gai leo
  3. Mộc qua
  4. Mã tiền

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Tế tân hiện nay hoàn toàn phải nhập.

Tại Trung Quốc, tế tân, có ở Liêu Ninh, Hà Nam, Sơn Đông, Thiểm Tây, Triết Giang, Phúc Kiến. Vị liêu tế tân có ở Hắc Long Giang, Liêu Ninh.

Theo Trung dược chí tập IIỈ, liêu tế tân sản lượng nhiều hơn, dùng trong nước và xuất khẩu, còn vị tế tân (hoa tế tân) sản lượng ít hơn, vậy tế tân ta nhập phần nhiều là vị liêu tế tân Herba Asari heterotropoidis.

Vào tháng 5-6 đào toàn cây phơi trong mát, không nên phơi nắng, phân biột liêu tế tân và hoa tế tần người ta dựa vào chiều dài của thân rễ và kích thước của đổt thân rễ. Liêu tế tân có thân rễ l-4cm, đốt dài 2-3mm, đầu lá hơi nhọn, mặt trên và mặt dưới lá dều có lông.

Hoa tế tân có thân rễ dài 3-8cm, đốt dài lmm, đẩu lá nhọn, mặt dưới lá chỉ có lông ở đường gân.

C. Thành phần hoá học

Trong tế tân có 2,75% tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là pinen, metyl-eugenola một hợp chất phenola có độ chảy 110°c, một hợp chất xeton, một lượng nhỏ axit hữu cơ, nhựa trong đó có chùng 0,2% chất trung tính với công thức C10H9O3 và độ chảy 124°c (Theo Trung Quốc sinh ly học tạp chí , 9: 261, 1935).

Theo một tài liệu khác, trong tế tân có L. asarinin C^HịgO^ và chừng 3% tinh dầu, trong tinh dầu thành phần chủ yếu là metyl ugenola chừng 50%, ngoài ra còn một ít asarylxeton C](1H(60 một chất phenol, axit panmitic.

Trong một loài tế tân khác Asarum sieholdìỉ Miq. var. seoulensis Nakai người ta thấy có 1- sesamín, 2,21% tinh dầu; trong tinh dầu thành phần chủ yếu là 47% metyleugenola axit panrnitic, safrola, I. pinen, eucacvon C]0H14O và hợp chất có tính chất phenola C10H|0O.

D. Tác dụng dược lý

Theo Lưu Mẽ Đạt Phu và Mộc Thỏn Hùng Tứ Lang (1940, Hoà hán dược dụng thực vật, 347-348) tinh dẩu tế tân trên ếch, chuột và thỏ lúc đầu gây hưng phấn, sau đó có hiện tượng mê, dần dần vận động hô hấp giảm, các phản xạ mầ’t, cuối cùng chết do hô hấp tê liệt. Khi hô hấp đình chỉ, tim vần còn dập.

D. Công dụng và liều dùng

Tế tân là một vị thuốc kinh nghiệm trong nhân dân. Tính chất của tế tân ương tài liệu cổ là vị cay, tính ôn, không độc, vào 4 kinh tâm, phế, can và thận.

Có tác dụng tán phong hàn, hành thuỷ khí, thông khiếu. Dùng trong những trường hợp phong hàn, phong thấp, đầu nhức, ho khí đưa ngược lên, đau răng, ngạt mũi, bí mổ hôi, ứ huyết.

Cũng theo sách cổ, phàm khí hư mà không ra mồ hôi, huyết hư sinh nhức đẩu, àm hư mà ho thì không dùng được. Ngày dùng l-4g.

Đơn thuốc có tế tân dùng trong Đông y:

Đau răng: Tế tân, thạch cao hai vị bằng nhau, mỗi vị lOg, ngâm vào 100ml rượu trong nửa ngày. Dùng rượu này ngậm: Khi mỏi miệng thì nhổ đi.

Chữa cảm lạnh: Tế tân 2g, bán hạ 2g, phục linh 2g, cát cánh 2g, quế chi 2g, cam thảo lg, nước 200ml sác còn 1 OOml chia 3 lẩn uống trong ngày.

Lở mồm, lờ lưỡi: Tế tân, hoàng liên 2 vị bằng nhau tán nhò bôi vào miệng, lưỡi, ngậm cho chảy dãi ra là khỏi.

Hôi miệng: Ngậm tế tân.

Chú thích:

Ngoài hai cây tế tân kể ừên, đông y còn dùng một số cây Asarum khác cũng gọi là tế tân hay thổ tế tân.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Tế tân”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin