Enter your keyword

Thăng ma

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 4 vote[s]

Thăng ma là một vị thuốc thường dùng trong đông y.

Ngọn và lá hơi giống cây gai (ma), lại có tính làm bốc lên trên (thăng) do đó có tên.

Trên thị trường, vị thăng ma do nhiều cây khác nhau cung cấp.

Chủ yếu là những cây thuộc họ Mao lương (Ranuncuỉaceae), nhưng vùng Quảng Đông, Quảng Tây giáp nước ta người ta dùng rễ một cây thuộc họ Cúc với tên thăng ma.

Cần chú ý để tránh nhám lẫn. Những vị thang ma thường gặp là:

1. Thiên thăng ma-(Rhizoma Cimicifugae heracỉeifoliae)-\k thân rẽ khồ của cây đại tam diệp thăng ma (Cimicifuga heracleifolia Komar.), thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae).

2. Bấc thăng ma-(Rhizoma Cimicifugae dahuricac)-[k thân rễ khô của cây bắc thăng ma hay đông bắc thăng ma-(Cimieifuga dahurica Maxim.) thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae).

3. Tày tháng nia-Còn gọi là lục thăng ma hay xuyên thăng ma (Rhizoma Cimicifugae foetidae) là thân rễ khô cùa cây thăng ma (Cimicifuga foetida L.) thuộc họ Mao lương (Ranuncuỉaceae).

4. Quảng đông thăng ma (Radix Serratulae) là rễ khô của thăng ma (Serratula sinensis s. Moore.) thuộc họ Cúc Asleraceae ịCompositae).

A. Mô tả cây

Vị thăng ma hiện nay chủ yếu vẫn phải nhập cua Trung Quốc, chúng tôi mò tả ở đây để chú ý phát hiện, hoặc để tránh nhầm lẫn. Cáy dại tam diệp thăng ma (Cimicifuga heracleifolia) là một cây sống lâu năm, thân mọc thảng đứng, cao từ 1-1,5m, nhẵn hoặc có ít lông mềm.

Lá kép 2 hay 3 lần lông chim, lá có cuống dài, lá chét cũng có cuống, cuông lá chét giữa dài hơn các lá chét bên, mặt lá đều có lông mém trắng, phiến lá chét hình trứng dài 9-11 cm, rộng 5-9cm, phiến lá chét nhiều khi (nhất là lá chét giữa) lại chia thùy, mép phiến lá có răng cưa to.

Lá phía ngọn thường nhỏ hơn, cuống lá cũng ngắn hơn. Cụm hoa chùm; hoa màu vàng trắng. Quả kép với 3-5 lá noãn rời nhau.

Cây hắc thăng ma (Cimici/ugơ dahurica) cũng là một cây sòng lâu nãm, thường chỉ cao lm, ưên thân có lông mềm, lá cũng kép 2 đến 3 lần lồng chìm, lá chét giữa thường có cuống, còn lá chét 2 bên thường khồng cuồng. Cụm hoa chùm, nhưng hoa dơn tính, khác đại tam diệp thăng ma có hoa lưỡng tính. Quả kép có 5 lá noãn. Câ\ thăng ma (Cimicifuga foetida) cũng là một cày sống lâu nãm, cao l-2m, lá kép nhiéu lần lông chim (khác những loài thăng ma kể trên). Cụm hoa hình chùy, hoa lưỡng tính, màu trắng. Quả kép, trên mặt có lổng ( Hình 518).

Cây thăng ma đầu (Serratula sinensis) là một cây sống lâu năm, lá mọc so le, nguyên, mép có răng cưa, dài 10-18cm, rộng 4,5-7cm, lá dưới có cuống dài, phía trên có cuống ngắn hơn. Hoa hình đầu, lưỡng tính, màu trắng. Quà bế hình thoi, một đầu nhọn.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Phòng phong
  2. Xạ can
  3. Tiền hồ
  4. Trúc nhự

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Như trên đã nói, vị thăng ma hiện nay chủ yếu nhập của Trung Quốc.

Trong số thăng ma nhập của Trung Quốc, nhiều nhất là loại bắc thăng ma chủ yếu sản suất ờ Hắc Long Giang, Hà Bầc, Nội Mông, Tứ Xuyên, Hổ Bắc, sau đến Quảng Đông thăng ma chú yếu sản xuất ở Quảng Đông, Quàng Tây.

Ngoài ra có một số ít thiên thăng ma chù yếu sản xuất ở Liỗu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang và táy thăng ma chủ yếu sàn xuát ở Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Thanh Hải, Vân Nam. Đòi với thiên thăng ma, bắc thãng ma và tây thăng ma người ta đào thân rễ vào mùa thu, phơi khô nửa chừng thì đem đốt cháy lớp rễ con rồi tiếp tục phơi cho thật khô, đối với Quảng Đông thăng ma, người ta đào rễ vào mùa hạ và mùa thu, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi hay sấy khô là được.

C. Thành phần hoá học

Trong vị thăng ma Cimicifuga foetida người ta đã chiết ra được chất đắng gọi là ximitin (cimítin) với công thức thô là C2uH340 7, ximitin là một chất bột màu vàng nhạt, vị dắng, tan trong axeton, cồn metylic, cổn etylic, clorofoc, không tan trong nước, ête, benzen và ête dầu hoả, độ chảy 169°c, đến 175°c thì phân giải. Theo Orêkhov thì trong thãng ma Cimicifuga foetida mọc ờ Liên Xô cũ (Xibêri) cá chứa một ít ancaloit. Các loài thăng ma khác chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

D. Tác dụng dược lý

Độ độc cùa thăng ma: Dùng ximitin tiêm tĩnh mạch cho chuột với liều lOOmg cho chuột lOg vản không thấy hiện tượng trúng độc. Người uống quá liều thì có hiện tượng bắp thịt mềm sỉu, đầu váng mắt hoa, mạch và hơi thờ giảm xuống, dạ dày bị kích thích đến gây nôn mửa kịch liệt, nếu quá liều nhiều quá thì choáng váng, nhức đâu. suy nhược và phát cuổng nhẹ.

E. Công dụng và liều dùng

Thăng ma chỉ mới thấy dùng trong phạm vi dông y. Tính chất của thảng ma theo tài liệu cổ của đông y là vị ngọt cay hơi đắng, tính bình và hơi độc vào 4 kinh tỳ vị phế và đại trường có năng lực thăng thanh, giáng ưọc (đưa cái trong lên trên, hạ chất đục xuống), tán phong giải độc, là thuốc thăng đổ và chữa phong nhiệt: Thường dùng làm thuốc giải độc. trừ ôn dịch, chướng khí, trúng độc mà sinh đau bụng, sốt rét, lờ cổ họng. Ngày dùng 4-10g dưới dạng thuốc sắc để uống hay súc miệng. Đơn thuốc có tháng ma dùng trong đông y t

1. Chữa sốt khi mới ỉén đậu: Thăng ma 8g, cát cân 5g, đại táo lOg, thược dược 2g, sinh khương 2g, cam tháo lg, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

2. Đau nhức răng, cổ họng lở loét: Thãng ma 4g, sắc với 200ml nước ngậm trong miệng lâu rồi nuốt. Ngày 2-3 lần.

Chú thích:

Triều Tiên xem vị thiên thăng ma (Cimicifuga heraclcifolia) là vị thuốc chính thức công nhận trong Triều Tiên hán dược cục phương và quy định như sau: Độ ẩm dưới 13%, độ tro dưới 13%, tro không tan trong axit clohydric dưới 5%, cao tan trong cồn trên 13%.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Thăng ma”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin