Enter your keyword

Thảo quả

320,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Thảo quả còn gọi là đò ho, tò ho, mac hâu, may mac hâu (Thái).

Tên khoa học Amomum tsao-ko Crév. et Lem. {Amomum aromaticum Roxb. Amomum medium Lour.).

Thuộc họ Gừng Zingiberaceae.

Thảo quả (Fructus Amomi tsao-ko) là thảo quả chín và phơi hay sấy khố.

A. Mô tả cây

Thảo quả là một loài cỏ sống lâu nãm, cao chừng 2,5-3m, thân ré mọc ngang, to thô, có đốt, đường kính chừng 2,5-4cm, giữa có màu trắng nhạt, phía ngoài màu hồng, thơm, mẫm, rất chóng thành xơ.

Lá mọc so le, có lá có cuống ngắn, có lá khồng cuống, bẹ lá có khía dọc, phiến lá dài 0,60-0,70m, rộng tới 0,20m, nhẵn, mặt trên màu xanh sẫm, mặt dưới hơi mờ, mép nguyên.

Cụm hoa thành bông mọc từ gốc, dài chừng 13-20cm, hoa màu đỏ nhạt.

Quả từ 8 đèn 17 trên mỗi bông, khi chín có màu đỏ nâu dài khoảng 3-4cm, đường kứìh 2-3cm, khi còn tươi mặt bóng nhẵn, vỏ ngoài dày 5mm.

Trong quả chia thành 3 ngăn, mỗi ngăn có chừng 7 hạt có áo hạt hình tháp ép vào nhau, rất thơm.

Các vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Sa Nhân
  2. Hoàng Liên Ô Rô
  3. Hoàng Đằng
  4. Hoàng Liên

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Thảo quả dược ưồng và mọc hoang ở những vùng khí hậu mát miền Bắc Việt Nam, chủ yếu tại Lào Cai, Cao Bang, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu. Còn thấy ở một số tỉnh Hoa Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam). Cây thảo quả được đưa vào trồng ở Việt Nam vào khoảng nãm 1890, từ các tỉnh biên giới ViệtTrung. Người ta tròng thành rừng rộng, à độ cao 1.000-1.500m, diện tích hiện nay khoảng 700-800ha.

Thu hoạch vào các tháng 10-12, khả năng ước lượng khoảng 500 tấn mỗi năm. Khi hái về người ta phơi trên phên thưa và sấy lửa nhẹ luốn 3 hay 4 ngày đêm cho đến khi khồ. Khi quả thào quả khô, màu sẽ ngà xám nâu nhạt, nhiều nét nhãn dọc và thường được phủ một lớp phân tráng, mỗi quà cân năng chừng 4g. Khi sấy không nên để lửa quá già, vỏ có thể bị cháy sém mà trong ruột hạt chưa thạt khô, dễ bị vụn. Sau đó đóng bao, mỗi bao 50 đến 100kg. Để nơi khô ráo.

Khi nào dùng mới bóc vò ngoài lấy hạt, nếu bóc lấy hạt ngay sẽ chóng mất mùi thơm.

C. Thành phần hóa học

Trong thảo quả có chừng 1-1,5% tinh dầu. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm ngọt, vị nóng cay dễ chịu (Đổ Tất Lợi, 1957). Năm 1989, Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự đã nghiên cứu thấy trong tinh dầu thảo quà có các thành phần chủ yếu: 1-8 cineol (30,61%), trans-2 undecanal (17,33%), citral B (geranial) (10,57%), -terpineol (4,34%).

D. Công dụng và liều dùng

Thảo quả là một vị thuốc, đống thời là một gia vị. Thảo quả thường được dùng để thêm vào một số bánh kẹo, đặc biệt loại kẹơ chè lam.

Trong thuốc, thảo quả chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân.

Trong các sách cổ, người ta cho thảo quả có vị cay, chát, tính ôn và không độc, vào hai kinh tỳ và vị, có năng lực táo thấp, khứ hàn, trừ đờm, chữa sốt rét, tiêu thực, hóa tích dùng làm thuốc kiện tỳ, giải dộc, chữa đau bụng, nôn mửa, hôi mồm.

Liều dùng hàng ngày: 3 dến 6g dùng riêng hay phố hợp với nhiều vị thuốc khác, sấc hay làm thành thuốc viên.

Theo đông y, phàm âm huyết không dù mà không hàn thấp thực tà không nên dùng.

Đơn thuốc có thảo quả dùng trong nhân dân

Chữa hôi miệng: Thảo quả dã dập, ngậm vào thiêng, nuốt nưóc.

Chữa sốt, sốt rét, dặc hiệt dùng trong trường hợp sốt ít, rét nhiều, dại tiểu tiện nhiều quá, không ăn dược: Thảo quả 10g, kha tử 10g, sinh khương 7 miếng, táo đen 2 quả, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Thảo quả”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin