Enter your keyword

Thương truật

320,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Thương truật hay còn gọi là mao truật, xích truật, nam thương truật.

Tên khoa học Atractyiodes iancea (Thunb.) DC. {Atractylìs lancea Thunb.).

Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

A. Mô tả cây

Cây Thương truật là một loại cây sống lâu năm, cao chừng 0,60m, có rễ phát triển thành củ to, thân mọc thẳng đứng. Lá mọc so le, gần như không có cuống, lá ở phía gốc chia 3 thùy nhưng cắt không sâu. 2 thùy 2 bên không lớn lắm, thùy giữa rất lớn, lá phía trên hình mác, không chia thùy. Mép lá trên lá dưới đều có răng cưa nhỏ nhọn.

Cụm hoa hình dầu, tổng bao do 5-7 lớp như ngói lợp. lớp dưới cùng chia rất nhò hình lông chim. Hot hình ống, nhũng hoa phía ngoài là hoa cái, nhữn§ hoa ưong lưỡng tính, tràng hoa màu trắng hay tím nhạt, đỉnh chia 5 thùy xẻ xâu. 5 nhị (bị thoái hóí ờ hoa cái), nhụy có đầu vòi chia hai, bầu có lốnị mềm nhỏ.

Cụm hoa thương truật so vói cụm hoí của bạch truật nhỏ và gầy hơn. Quả khô.

Một số vị thuốc khác có tại Kiều Gia Đường:

  1. Bạch Truật
  2. Đan sâm
  3. Đương quy
  4. Ích trí nhân

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Thương truật từ trước đến nay ta vẫn phải nhậị của Trung Quốc, gần đây mới trổng được ở Việ Nam, nhưng chưa phát tniển đủ để tự túc được.

Tại Trung Quốc, thương truật mọc ở Giang Tô, Bắc, Hà Nam, loại của Giang Tô được coi là tố nhất, Hổ Bắc sản xuất nhiều, tiêu thụ ờ Hoa Bắc, Đỏng Bắc và xuát khẩu. Có thể mùa thu hoạch vào mùa xuân hay mùa thu, loại thu hoạch vào các tháng 7-8 được coi là tốt hơn. Đào vé, rửa sạch đất, cắt bỏ rẻ con, phơi hay sấy khô.

Có nơi đem đốt nhẹ rễ để loại bỏ rể con hay có nơi lại cạo bỏ vò ngoài để lộ các túi tinh dầu màu vàng, trông bề ngoài đẹp, nhưng cả hai phương pháp đểu không nên áp dụng vì làm như vây tỷ lệ tinh dầu sẽ bị giảm.

C. Thành phần hóa học

Trong thương truật có tinh dầu, trong tinh dầu thành phân chủ yếu là atractylola CJ5H,60 và atractylon C]4HlgO. Theo sự nghiên cứu của hệ dược thuộc Viên nghiên cứu y học Trung Quốc thì trong thương truật Hồ Bắc, Giang Tô, An Huy và Hà Nam (Trung Quốc) tỳ lệ tinh dầu lên tới 5-9%, trong khi đó thương truật ờ một bộ phận cùa Hà Nam, Thiểm Tây tỳ lệ tinh dầu là 3-5%, các tỉnh khác như Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Hà Bắc, Sơn đông, Sơn Tây thì tỷ lệ chỉ có 1-3%.

D. Tác dụng dược lý

Năm 1927, Kim Thượng Tần báo cáo liều nhò tinh dầu của thương truật có tác dụng trấn tĩnh dối với một loại ếch xanh (Trung Quốc), đồng thời xúc tiến cơ năng phản xạ của tùy sống, nhưng nếu dùng liều cao có tác dụng ức chế trung khu thần kinh rồi đến chết do ngừng hô hấp.

Năm 1936, Kinh Lợi Bân và Lý Đăng Bảng dùng cao thương truât tương đương với 6g vị thuốc trên Ikg thể trọng, tiêm dưới da cho thỏ thì thấy trong vòng 2-5 giờ, lượng huyết dường giảm xuống, ‘đối với tim ếch cũng có tác dụng ức chế nhịp đập, làm cho tim đập chậm. Nếu dùng liều cao thì làm cho tim tê liệt mà ngùng dập. Nếu tiêm tĩnh mạch với liều nhỏ (0,l-0,3g cho lkg thể ưọng) thì làm cho huyết áp hơi tăng cao, liều cao (0,5- 2ml ưên lkg thể ưọng) thì làm cho huyết áp hạ thấp, nhimg đối với hô hấp thì dù với liều to hay nhỏ đều làm cho tạm thời tăng nhanh và không có tác dụng lợi tiểu rõ rệt. Đối với tá tràng cô lập cùa thỏ thì có tác dụng ức chế. Bạch truật so với thương truật tác dụng cũng hơi giống nhau.

Năm 1952, Đặng Vũ Phi đã thí nghiệm thấy bạch truật có tác dụng ức chế đối với một loại vi trùng gây bệnh ngoài da.

Theo đông y thì thương truật vị khổ (đắng), tân (cay), khí liệt (mạnh) cũng vào hai kinh tỳ và vị như bạch truật. Có khả năng kiện tỳ, táo thấp phát hãn, bạch truật vị khổ, cam (ngọt) khí hòa, do đó đông y thích dùng bạch truật và ít dùng thương truật, trên thị trường thương truật tiêu thụ ít và chậm hơn bạch truật.

E. Công dụng và liều dùng

Thương truật có khả năng hạ thấp lượng huyết đường quá cao, có thể dùng trong bệnh huyết đường, còn dùng trong triệu chứng tinh thần không phấn khởi, chân tay không có lực và cũng có tác dụng bô dạ dày, giúp tiêu hóa. Ngày dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, hoặc xòng hun để tiêu độc trong nhà, chống sâu bọ.

Đơn thuốc có thương truật

Bình vị tán: Chữa cấp tính, mãn tính viêm dạ dày và ruột, nôn mửa, di tả, dầy bụng không tiêu, đau bụng. Thương truât 160g, hâu phác 120g, trần bì 80g, cam thảo 40g. Các vị tán thành bột, trộn đều, mỗi lẩn dùng 9g bột này, dùng nước gừng hoặc nước nóng thường mà chiêu thuốc. Ngày uống 3 lần.

Cao bạch truật làm thuốc bổ chữa đi ia lỏng: Bạch truật 6kg, nước đổ cho ngập, cho vào nồi đất hay đồ sành sắt tráng men, nấu cho cạn còn một nửa, gạn lấy nước, thay nước mới, làm như vậy 3 lần rồi hợp cả 3 nước cô đặc thành cao. Ngày uống 2-3 thìa cao này.

Chú thích:

Ngoài vị thương truật nói trên, tạí miền bắc Trung Quốc còn dùng một cây nữa gọi là bắc thương truật Atractylodes sinensis (D. C) Koidí Atractylis sinensis D. C; Atractylodes lancea E c . var sinensis Kitam cùng thuộc họ Cú Asteraceae (Composừae). Nhật Bản còn dùng vị thương truật Nhật Bả: (Atractylis japonica Kitaga).

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Thương truật”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin