Enter your keyword

Uất kim

360,000

In stock N/A .

Mô tả

5 (100%) 3 vote[s]

Cây Uất Kim còn có tên gọi là Nghệ, Khương Hoàng, safran des Indes.

Tên khoa học Curcuma longa L. (Curcuma domestica Lour.).

Thuộc họ Gừng Zingiberaceae.

Ta dùng thân rễ cây nghệ gọi là khương hoàng (Rhizoma Curcumae longae) và rể củ gọi là uất kim (Radix Curcumae longae).

A. Mô tả cây

Uất Kim là một loại cỏ cao 0,60m đển Im. Thân rễ thành cù hình trụ hoặc hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng cam sẫm. Lá hình trái xoan thon nhọn ở hai đầu, hai mật đểu nhẵn dài tới 45cm, rộng tới I8cm. Cuống lá có bẹ. Cụm hoa mọc tù giữa các lá lên, thành hình nón thưa, lá bắc hữu thụ khum hình máng rộng, đầu tròn màu xanh lục nhạt, lá bắc bất thụ hẹp hơn, màu hơi tím nhạt. Tràng có phiến, cánh hoa ngoài màu xanh lục vàng nhạt, chia thành ba thùy, thùy trên to hơn, phiến cánh hoa trong cũng chia ba thùy, 2 thùy hai bên đứng và phảng, thùy dưới hõm thành máng sâu. Quà nang 3 ngán, mờ bằng 3 van. Hạt có áo hạt.

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Được trống ờ khắp nơi trong nước ta để làm gia vị và làm thuốc. Còn mọc và được trồng ờ các nước Ấn Độ, Inđônèxya, Cãmpuchia, Lào, Trung Quốc và các nước nhiệt đới. Thu hoạch vào mùa thu. cất bỏ hết rễ để riêng, thân rẻ để riêng. Muốn để được lâu phải đồ hoặc hấp trong 6- 12 giờ, sau đó đợi ráo nước, đem phơi nắng hoặc sấy khô. Thán rễ gọi là khưcmg hoàng’, rể gọi là uất kim.

C. Thành phần hóa học

Trong nghệ, người ta đã phân tích được:

1. Chất màu curcumin 0,3%, tinh thể nâu đó, ánh tím, không tan trong nước, tan trong rượu, ête, clorofoc. dung dịch có huỳnh quang màu xanh lục. Tan trong axit (màu đỏ tươi), trong kiềm (màu đỏ máu rồi ngà tím), trong chất béo (dùng dể nhuộm các chất béo). Công thức curcumin đã được xác định như sau:

2. Tinh dầu 1-5% màu vàng nhạt, thơm. Trong tinh dầu có curcumen CjH ^ một cacbon không no, 5% paratolylmetyl cacbinol và 1% long não hữu tuyến. Hai chất sau chl thấy có trong tinh dầu Curcuma xanthorriza Roxb.

3. Ngoài ra còn tinh bột, canxi oxalat, chất béo. Theo R. R. Paris và H. Moyse (1967, 11, 78) củ nghệ chứa 8-10% nước, 6-8% chất vô cơ, 227 HO OCHí OCH3 H=CH—CO- CH í —CO—CH=CHRi OCHs OCH3 H Rỉ currcumin / currcumin II JỊ currcumin /// Aryl-turmeron CH3 / \ CHl CHa 40-50% tinh bột nhựa.

Hoạt chất của nghệ gổm:

1. Tinh dầu 3-5% gổm 25% cacbua tecpeníc, chủ yếu là zingiberen và 65% xeton sespuitecpenic, các chất turmeron (do tiếng Anh của củ nghệ là turmeric).

2. Các chai màu vàng gọi chung là curcumin. Vào đầu thế kỷ XIX người ta đă chiết được curcumin tinh thể không tan trong nước tan trong cồn, ête, dầu béo. Nhưng năm 1953-Srinivasan K. R. Ụ, Pharm. Pharmacol. 1953, 5 448-457) đã chứng minh bằng sắc ký trên cột silic ràng đó là một hỗn hợp: Curcumìn chính thức (còn gọi là curcumin I) chiếm 60% đây là một dixeton đối xứng khồng no có thể coi như là diferuloyl-metan (axit ferulic là axit hydroxy-4-metoxy-3-xinamic). Curcumin II hay monodesmetoxy-curcumin chiếm 24% và curcumìn ỈU hay didesmetoxycurcumin chiếm 14% trong đó 1 hay 2 axit hydroxycinamic thay cho axit ferulic. Nếu dùng sắc ký trên giấy sẽ thấy các chất curcumin khác nữa nhưng với lượng nhò. Theo E. Gildmeister và F. R. Hoffman trong tinh dầu nghệ cổ 53,1% xeton a-P etylenic ở từ mạch nhánh gắn vào nhân (bao gồm 29,5% turmeron và 23,6% arylturmcron). < Nãm 1977, Nguyỗn Khang (Đại học dược khoa Hà Nôi) đã chiết từ hột củ nghệ sau khi đã cất lấy hết tinh dầu bằng benzen, sau đó thu hổi dung môi trong áp lực giảm và kết tinh lại bằng cồn etylic cho tới khi có độ chảy không thay đổi và một vết trên sắc ký lớp mỏng dã thu được 0,76 đến 1,1% curcumin I tinh khiết, độ chảy 182-183″C. Nếu chọn củ nghệ thu vào tháng 1, tháng 2 có thể đạt tới 1,5% curcumin. Từ vỏ củ nghệ (vẫn cạo bỏ đi) đã cất được từ 1,5 đến 2,1% tinh dầu có thành phần tương tự như tinh dầu cất từ củ nghệ, do phần vỏ dày từ 0,5-lmm trong đó trọng lượng lớp vỏ mỏng không đáng kể, còn phần cù dính vào chiếm chủ yếu.

D. Tác dụng dược lý

1. Guy Laroche (1933), H. Leclerc (1935) đã chúng minh tính chất kích thích sự bài tiết mật của các tế bào gan (cholérétique) là do chất paratolyl metylcacbinol, còn chất curcumin có tính chất thõng mật (cholagogue) nghĩa là gây co bóp túi mật. Chất curcumen có tác dụng phá cholesterol trong máu (cholesterolitique). Toàn tinh dẩu dù pha loãng cũng có tác dụng diệt nấm và sát trùng dối với bệnh nâm, với Staphylcoc và vi trùng khác.

2. Robbers (1936) nói đã dùng chất lấy ra ở nghệ bằng ête etylic thấy có tác dụng tăng sự bài tiết mật và chất curcumin có tính chất co bóp túi mật. 228

3. Trương Ngôn Chí (1955 Trung Hoa V dược tạp chí, 5) đã báo cáo: Ông đã chê nghệ dưới hai hinh thức dung dịch 50% và dùng dung dịch 2% HC1 để chiết xuất và chế thành dung dịch 50% (sau khi đã trung tính hóa mới dùng thí nghiệm).

Thí nghiệm trên tử cung cố lập của chuột bạch và chuột nhắt thấy có tác dụng hưng phấn, thí nghiệm trên tử cung của thỏ (theo phương pháp Reynolds) thì khi tiêm dung dịch clohydrat cao nghệ vào tĩnh mạch hoặc thụt dung dịch nghệ, đều thấy từ cung co bóp đều đặn, mỗi lần cho thuốc, thời gian tác dụng kéo dài 5-7 giờ. Khi tiêm 5ml dung dịch clohydrat cao nghệ vào chó đã gây mè thì thấy tác dụng xúc tiến sự bài tiết nước mật, nếu tiêm tới 15-20ml, có thể đưa đến đình chỉ hổ hấp và huyết áp hạ.

Thí nghiệm trên tim cô lập (phương pháp Straub) thấy có hiện tượng ức chế.

4. Theo Vũ Điền tàn dược tập, bản thứ 4 một số tác dụng dược lý của nghệ đã dược nghiên cứu như sau:

– Tác dụng đối với cơ nâng giải độc của gan đã được thí nghiệm bằng cách cho uống thuốc có nghệ, sau đó theo dõi khả năng giải độc của gan đối với santonin thì thấy tăng cơ năng giải độc của gan. Nếu uống liên tục, thấy tác dụng rõ hơn là uống một lần.

– Đối với bệnh nhân bị galactoza niệu sau khi uống thuốc có nghệ 10 ngày, kiểm nghiệm lượng galactoza bầng phương pháp Banev thì thấy lượng galactoza giảm xuống.

– Đối với lượng urobilin tâng trong nước tiểu, uống thuốc có nghệ vài ngày sẽ thấy lượng urobilin trong nước tiểu giảm xuống.

– Đối với sự tiết nước mật: Cho nước nghê vào tá tràng sẽ thấy lượng nước mật trong tá tràng được tăng cao, nhưng lượng bilirubin không tăng, nhưng khi lượng nước mật tăng nhiều, độ sánh của nước mật cũng tăng lên. Nếu như đang cho nước nghệ vào tá tràng làm cho lượng nước mật tàng lên, thôi khổng cho nước nghệ nữa mà cho dung dịch magiê sunfat đặc vào, thì lượng nước mật vẫn tăng và đặc.

– Dùng nghệ trong nhưng bênh về gan và đường mật thì thấy chóng hết đau. Nhưng trong những trường hợp sỏi mật cấp tính thì kết quả chậm, chỉ có tác dụng từ từ.

5. Tác dụng kháng sinh M. M. semiakin và cộng sự (Khimia antihiotikop, xuất bản lần 3, 1, 278, Nga văn) đã chứng minh curcumin I có tác dụng ngăn càn sự phát triển của vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis ở nồng độ 25 ỵ/ ml, ngoài ra curcumin I còn có hiệu lực đới với Salmonella paratyphi ở nồng độ 200 Y/ml, với Staphyllocơccus aureus ở nồng độ 50 Y/ml, nấm Trychophyton gypcum ờ nồng độ 25 Ỵ/ml. Theo Taniyama H. và cộng sự ụ . Pharm. Soc. Japan 1956, 76, 154-157) các xeton a -p etylenic trong hệ thống vòng có khả năng khóa nhóm -SH của men, làm rối loạn chuyển hóa của men trong cơ thể vi trùng nói chung và vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis nói riêng. Các xeton loại này có nhiều trong nghệ.

Năm 1977, phòng vi trùng Viện chống lao và Viện đống y Hà Nội đã thí nghiệm thấy tinh dầu nghê ức chế được sự phát triển của vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis H37RV ở nồng độ 1 y/ml; nồng độ tối thiểu ức chế đối với Bacillus subtiỉis là 1/250, đối với Candida albicans là 1/160. Tinh dầu nghệ khống có tác dụng đối với Bacterium pyocyaneum và Streptococcus hemolyticus.

6. Độc tính của tinh dấu nghệ DLS0 của tinh dầu nghệ trên chuột nhắt trắng là 9,2ml/kg thể trọng (Bộ môn dược lý-Đại học Quân y Hà Nội, 1977).

7. Tác dụng khác: Võ văn Lan đă phát hiện tiêm tinh nghệ có khả năng thấm qua các màng tế bào đặc biêt là vò sáp khuẩn lao và hủi, nó giúp cho chất màu xâm nhập vào trong các tế báo này (Bộ môn sinh lý, dược lý-Đại học y khoa thành phế Hổ Chí Minh-Các hội nghị y dược học quốc tế và quốc gia quý I-1977-Thư viện y học trung ương, 3).

E. Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ: Uất Kim vị cay, đắng, tính ôn, vào 2 kinh can và tỳ, Uất Kim có tác dụng phá ác huyết, huyết tích, kim sang và sinh cơ (lên da) chỉ huyết. Nhưng nếu âm hư mà không ứ trệ cấm dùng; các bênh sản hâu (sau khi đẻ) mà không phải nhiệt kết ứ cũng không nên dùng; đàn bà có thai không nên dùng. Uất Kim thường được dùng trong bênh đau dạ dày, vàng da, phụ nữ sinh nở xong đau bụng.

Liều dùng hàng ngày l-6g dưới hình thức 229 bột hoặc thuốc sắc chia làm 2, 3 lẩn uống trong ngày. Ngoài cống dụng trên, nhân dân còn dùng Uất Kim bôi lên các mụn mới khỏi để đỡ sẹo, nhuộm vàng bột cary, nhuộm len, nhuộm tơ, nhuộm da. Đơn thuốc có nghệ.

1. Chữa thổ huyết máu cam: Nghệ tán nhỏ, ngày uống 4-6g chiêu bằng nước.

2. Bài thuốc kinh nghiệm chữa điên cuồng (kinh nghiệm phương-Bấn thảo cương mục): Nghệ 250g, phèn chua 100g, tán nhỏ, hòa nước cháo viên thành viên bàng hạt ngô. Ngày uống 50 viên. Uống hết hai đơn như trên thì khỏi. Đã chữa khói một người phu nữ do lo sợ quá độ phát điên đă 10 năm.

3. Đơn thuốc cao dán nhọt (kinh nghiệm của Ngô Tất Tố). Củ ráy 80g (một cú) Nghệ 60g (một củ) Nhựa thòng 40g Sáp ong 40g Dầu vừng 80g Củ ráy gọt sạch vở cùng giã với nghệ cho thật nhỏ, cho vào nấu nhừ với nhựa thông dầu vừng và sáp ong. Lọc để nguội, phết lên giấy bán dán vào mụn nhọt.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Uất kim”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin