Enter your keyword

Xuyên khung

360,000

In stock N/A .

Mô tả

4.7 (94%) 10 vote[s]

Cây Xuyên Khung hay còn gọi là khung cùng, tang ky.

Tên khoa học Ligusticum wallichii Franch.

Thuộc họ Hoa Tán Apiaceae (Umelliferae).

Xuyên khung (Rhizoma Ligustici wallichii ) là thân rễ phơi hay sấy khồ của cây xuyên khung. Trong con người, cái đầu được coi là bộ phận cao nhất, như vòm trời. Vị thuốc này chuyên trị các chứng về đầu, não, do đó có tên (khung: cao, cùng: chỗ cuối cùng). Tên xuyên khung vì vị thuốc nguồn gốc ở tỉnh Tú Xuyên. Hiện đã di thực được vào nước ta.

A. Mô tả cây

Xuyên khung là một cây thuộc thảo, sống lâu năm, thân mọc thảng trong ruột rỗng, mặt ngoài có dường gân dọc nổi rõ. Lá mọc so le, kép 3 lần, cuống lá dài 9-17cm, phía dưới ôm lấy thân, 3 đến 5 đôi lá chét, cuống lá chét dài. phiến lá chét rách sủu, khi vò có mùi thơm. Hoa họp thành tán kép, cuống tán phụ ngắn chừng lcm, hoa nhỏ, màu tráng. Song bế quả, hình trứng ( Hình 506).

B.Phân bố, thu hái và chế biến

Xuyên khung chủ yếu được trồng tại tỉnh Tứ Xuyên, còn mọc ở Vân Nam, Quí Châu (Trung Quốc).

Đã di thực được vào nước ta. Tuy nhiên tại Sapa (Lào Cai) có đồng bào nói cây đó có sẵn tại tỉnh này từ trước. Nhưng dù sao cũng chỉ mới được phát triển trong vòng những năm gần đây, hiện nay được trồng trên quy mô lớn.

Cây ưa những nơi cao, có khí hậu mát như Sapa, việc trồng thí nghiệm tại đồng bằng chưa thành cổng. Xuyên khung ưa đất tốt, nhiều mùn, có pha cát. Trổng băng mắt cắt ờ thân ra, mỗi bẽn mắt để chừng lcm. Có thể trồng bằng mẩu thân rễ, nhưng trồng bằng mắt thì củ có hình khối tròn 654 và đẹp.

Mùa trổng tốt nhất là cuối xuân, nếu trồng muộn quá, cây chưa kịp tớt và khỏe trước mùa đông tới. Cây trồng sau hai nãm mới bắt đầu thu hoạch.

Củ đào vể, cắt bỏ cọng và rể nhỏ, rũ sạch đất cát, phơi khô chỗ thoáng gió, nếu sấy, phải sấy ờ nhiệt độ thấp cho khỏi bay mất nhiều tinh dầu, Nâng suất một hecta là 2 tấn củ khô.

C . Thành phần hoá học

Theo Kha Vinh Đưòng và Tăng Quảng Phương, 1957 (Hoá học học háo, 23 (4): 246- 249) thì trong xuyên khung Ligusticum wallichii có 4 chất chủ yếu sau đây:

Một ancaloit dễ bay hơi, công thức Cỉ7H37Nr Một axit C10H|0O4 với tỷ lệ chừng 0,02 gần giống axit ferulic trong a nguỳ (Ferula asa-foetida L. thuộc họ Umbelliferae).

Một chất có tính chất phenola với công thức C 24H 460 4 h ° ặ c C 23H 4 4 ° 4 ’ đ ộ c h à y 1 0 8 ° c .

Một chất trung tính có cồng thức C2ồH2g0 4, độ chảy 98″C.

Trong tinh dầu xuyên khung, người ta đã xác định được một chất lacton rất giống chất cnidíum lacton đã tìm thấy trong một loại khung khác Cnidium offcinaJe Makino (xem ở dưới). C4Hft 1 Cnỉdium I act on

D. Tác dụng dược lý

Nhiều tác giả đã nghiên cứu tác dụng dược lý của xuyên khung. Sau đây là một số kết quả chính:

1 .Tác dụng đối với trung khu thần kinh. Theo Thụ Thượng Sư Thọ (1933), tinh dáu xuyên khung với liều nhỏ có tác dụng ức chế đối với hoạt động của đại não, nhung đối với trung khu hô hấp, trung khu vận mạch và trung khu phản Hình 506. Xuyên khung -Ligusticum wallichii xạ ờ tuỷ sống thì lại có tác dụng hưng phấn, kết quả làm cho con vật một phần yên tĩnh, tự động vận động giảm xuống, nhưng mảt khác làm cho huyết áp tàng cao, hô hấp cũng tảng, cơ năng phản xạ cũng tãng, nhưng nếu dùng liều quá cao thì đại não bị tê liệt mạnh, các ưung khu và phản xạ tuỷ sống có thể bị ức chế do đó huyết áp hạ xuống, nhiệt độ cơ thể giảm xuống, hô hấp khó khản, vận động có thể tê liệt và chết.

2. Tác dụng đối với tuần hoàn\ Theo Thụ Thượng Sư Thọ (1933), tinh dầu của xuyên khung có tác dụng tê liệt đối với tim làm cho các mạch máu ngoại vi dãn ra, liều lớn có thể làm cho huyết áp hạ xuống (đã nổi ở trên), phải chăng có liên quan với tác dụng này. Hai tác giả khác Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao dã dùng cồn 70° và nước chiết hoạt chất trong xuyẻn khung mua của hiệu thuốc Đổng Nhân Đường (Bắc Kinh) chế thành dung dịch 10%, rồi tiêm vào tĩnh mạch chó và thỏ gây mê, thì thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt, hai tác giả này cho rằng tác dụng này có liên quan tới ảnh hưởng của trung khu thản kinh. 655 Lý Quảng Tuý và Kim Âm Xương (1956) đã nghiên cứu 27 loại thuốc đông y đối với huyết áp (thí nghiệm trên chó và mèo đã gây mê) thì xuyên khung là một vị có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt và kéo dài dù tiêm mạch máu hay tiêm bắp thịt cũng có tác dụng như nhau (Trung Quốc sinh lý khoa học hội, 1956).

3. Tác dụng đổi với cơ trơn: Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao (1934) đã dùng dung dịch nước của xuyên khung thí nghiệm trẽn tử cung cô lập của thỏ đã có thai, thấy với liều nhỏ dung dịch nưóc xuyên khung có tác dụng kích thích co bóp của từ cung thò có thai, cuối cùng đi đến hiện tượng co quắp, ngược lại nếu dùng liều lớn, từ cung tê liệt và đi đến ngừng co bóp. Các tác giả còn thí nghiệm tiêm dung dịch xuyên khung liên tục một thời gian cho thỏ và chuột trắng có chửa thì thấy cái thai chết trong bụng mà không đẩy ra được. Các tác giả cho rằng vì xuyẻn khung gây co bóp tử cung, ảnh hưởng tới dinh dưỡng của thai làm cho thai chết. Các tác giả còn cho ràng vì xuyên khung làm dãn mạch máu cho nên khòng làm cho cầm máu được. Cổ nhân cho rằng xuyên khung có tác dụng điều trị những phụ nữ sau khí sinh nò mà bị băng huyết là do xuyên khung có khả năng làm co tử cung, làm cho những mạch máu ở vách tử cung áp chật vào vách tử cung mà gây cầm máu. Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao còn nghiên cứu tác dụng của dung dịch nước xuyên khung trên mẩu ruột cô lập (ruột thò và chuột bạch) thì thấy nêu dùng liều cao, sự co bóp bị hoàn toàn ngùng hẳn không khôi phuc lại được; nếu dùng liều nhỏ thì làm cho mẩu ruột co bóp dần dần mà không có khả năng làm cho ngừng hẳn.

4. Tác dụng kháng sinh: Theo báo cáo của Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tây, 1950 Ợ rung Hoa V học tạp chí, 68: 307-312) thì xuyên khung có tác dụng kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng như vi trùng thương hàn, phó thương hàn, vi trùng sinh mủ, thổ tả, vi trùng lỵ Sonner v.v…

E. Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ, xuyên khung có vị cay, tính ôn, vào 3 kinh can, đởm, và tâm bào. Có tác dụng đuổi phong, giảm đau. lý khí hoạt huyết dùng chữa kinh nguyệt khống đẻu, đầu nhức mắt hoa, ngực bụng đẩy trướng, bán thân bất toại, chần tay co quắp, ung thư. Những người âm hư hoả vượng không dùng được. Xuyên khung là một vị thuốc hay được dùng chữa những triệu chứng nhức đầu, hoa mắt, huyết áp cao, phụ nữ sau khi sinh nở bị dong huyết măi không ngừng. Còn dùng trong những trường hợp đau dạ dày hay đau đớn khác và kinh nguyệt không đều. Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sác, thuốc bột hay ngảm rượu. Đơn thuốc có xuyên khung ].

1. Thuốc chữa nhức đầu, chóng mặt: Xuyên khung 3g, tế tân 2g, hương phụ 3g, nước 300ml, sác còn 100ml. Chia 3 lần uống ,trong ngày.

2. Đơn thuốc chữa thiên đấu thống, ngạt mũi, mắt mờ: Xuyên khung 12g, kinh giới 12g, bạc hà 24g, phòng phong 4g, tế tân 3g, khương hoạt 6g, bạch chỉ 6g. Các vị trên tán nhò, ngày uống hai lấn, mòi lần uống 6g bột, dùng nước chè mà chiêu thuốc.

3. Độc vị xuyên khung tán chữa thiên dầu thống, phụ nữ sau khi đè nhức đầu: Xuyên khung tán nhỏ. Dùng nước chè chiêu thuốc. Ngày uống hai lần, mỗi lần uống 4 đến 6g

Chú thích:

1. Vị xuyên khung được nhiểu lác giả xác định với tên khoa học khác nhau. Ví dụ Lưu Mê Đạt Phu đã xác định với tên Cnidium officinale Makino (Hoà hán dược dụng thực vật, 132, 1940), Ly Thừa Cố (Sinh dược học, 216, 1952) đã xác định là Conioselinum unvittatum Turcz. Tuy nhiên nãm 1960, Lý Thừa Cố đã xác định lại là Ligusticum wallichii (Trung Quốc dược dụng thực vật đổ giám). Chúng tôi theo tài liệu là tập Trung dược chí quyển I (Bắc Kinh, 1961), vì theo sự mô tả và hình vẽ giống cây xuyẽn khung ta đang trồng hơn cả. Ngay trong tập này các tác giả cũng giới thiệu thêm một cây nữa mà một số tỉnh Trung Quốc cũng dùng với tên xuyên khung hay cao bản, hoặc tây khung. Tên khoa học của cây này 656 là Ligusticum sìnense Oliv. Tại Sapa, nhân dân thường trồng cả hai loài: Loài xuyên khung Lìgusticum wallichii có lá nhỏ, còn có tẻn là (ang ky. Loài Lìgustcum sinense Oliv. còn có tên là mùa chua có lá lớn hơn lá xuyên khung.

2. Về thành phán hoá học, các tác giả Lưu Mê Đạt Phu và Mộc Thổng Hùng Tây Bộ (1940) có giới thiệu về thành phần của xuyên khung Cnidium officinale như sau: Trong thân rễ xuyên khung Cnìdium officinale có chừng 1-2% tinh dầu. Thành phần chủ yếu trong tinh dầu xuyên khung này là cnidium axit Ct,H20O?, este cnidium CpHwO,-O-Cl0H l7, tinh thể cnidium lacton C|2HlgO,, axit sedanonic C|2H|g0 3, một chất rượu Cj°HI7OH và một chất phenol. Xem vậy, ta thấy cần kiểm tra lại tên thực vật và thành phần hoá học của những vị xuyêh khung tã dùng vì nguồn gốc nhập khác nhau, chất lượng có thể khác nhau. Trong cây cao bản Ligusticum sinense chỉ mới biết có tinh dầu. Thành phẩn của tinh dầu và hoạt chất khác chưa thây có tài liệu nghiên cứu.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Xuyên khung”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐẶT MUA SẢN PHẨM

Phí vận chuyển toàn quốc chỉ 0-20.000Đ (Giao hàng, thu tiền tận nhà)

Bỏ trống ô số lượng nếu bạn cần tư vấn

Chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay khi nhận được thông tin